Tại Việt Nam, danh xưng Tin Lành thường được dùng để chỉ một nhóm các giáo phái khởi phát từ cuộc cải cách tôn giáo bắt đầu vào thế kỷ 16 bởi Martin Luther. Là tu sĩ dòng Augustine, mục tiêu ban đầu của Luther là kêu gọi cải cách từ bên trong Giáo hội Công giáo La mã, về sau ông tách rời khỏi Công giáo và thành lập Giáo hội Luther. Trong khi đó tại Âu châu, nhiều người có quan điểm tương tự như của Luther cũng bắt đầu tách khỏi Công giáo và thành lập các giáo phái khác nhau. Họ được gọi dưới một tên chung là Kháng Cách (Protestantism). Kháng cách được xem là một trong ba nhánh chính của Cơ đốc giáo, cùng với Công giáo và Chính thống giáo Đông phương.

Danh xưng Kháng Cách xuất phát từ hội nghị Speyer năm 1529 khi người ta gọi một số các vương hầu và những đại biểu các thành phố thuộc Thánh chế La mã (thuộc lãnh thổ nước Đức ngày nay) là kẻ phản kháng (protestant) khi họ lên tiếng chống lại việc cấm đoán truyền bá tư tưởng cải cách.

Trong ý nghĩa rộng lớn hơn, tên gọi Kháng Cách dùng để chỉ các giáo hội khác nhau, tách khỏi Công giáo do chịu ảnh hưởng của Martin Luther và John Calvin, người lãnh đạo một cuộc cải cách tôn giáo khác tại Geneve, Thuỵ Sĩ, cũng là người khởi xướng phong trào Calvinist. Xuất hiện một nhóm khác trong thời kỳ cải cách, thường được gọi là cải cách cực đoan. Trong khi đó nhiều nhóm tôn giáo tách khỏi Công giáo cũng được gán cho nhãn hiệu Kháng cách dù chính họ cũng phủ nhận mọi liên hệ với Luther, Calvin hay với Công giáo.

Khởi nguyên của Kháng Cách

Phong trào cải cách bùng nổ đột ngột tại nhiều nơi ở Âu Châu, nhưng tìm thấy sức mạnh của mình tại Đức, nơi cuộc cải cách đã gây ra sự phân hoá trầm trọng giữa các vương hầu đang cai trị các phần lãnh thổ nước này. Tuy nhiên, nguyên nhân của sự bùng nổ nầy có thể giải thích bởi các biến động xảy ra trong suốt hai thế kỷ trước đó tại Tây Âu.

Mầm mống của sự bất ổn âm ỉ bên trong giáo hội và đế quốc được đẩy lên đỉnh điểm khi xảy ra việc dời ngai giáo hoàng về Avignon], Pháp (1308-1378) và sự tranh chấp giáo quyền giữa hai triều giáo hoàng tồn tại song song (1378-1416), gây ra chiến tranh giữa các vương hầu, các cuộc nổi dậy của nông dân và mối quan tâm về những thối nát trong lòng hệ thống các tu viện. Nó cũng giới thiệu chủ nghĩa quốc gia như là một nhân tố mới vào thế giới trung cổ. Phong trào phục hưng nhân văn khuyến khích giới khoa bảng quan tâm đến quyền tự do dành cho học thuật. Những cuộc tranh luận sôi nổi được tiến hành tại các viện đại học bàn đến các vấn đề như bản chất của giáo hội, nguồn gốc và giới hạn của thẩm quyền dành cho giáo hoàng, các công đồng và các vương hầu. Một trong những luận thuyết cấp tiến và gay gắt nhất đến từ John Wiclif của Đại học Oxford, và sau đó là từ Jan Hus của Đại học Praha. Trong nội bộ Giáo hội Công giáo La mã, cuộc tranh luận này bị khép lại bởi Công đồng Constance (1414-1418), xử tử Jan Hus và thiêu xác John Wiclif như là kẻ dị giáo. Dù Công đồng Constance nỗ lực khẳng định và củng cố các khái niệm thời trung cổ về giáo hội và đế quốc, lại không thể giải quyết toàn diện các căng thẳng về ý thức quốc gia cũng như những phản kháng về thần học.

Martin Luther, tu sĩ dòng Augustine và giáo sư tại Đại học Wittenberg, chỉ muốn kêu gọi mở ra các cuộc tranh luận về phép giải tội (indulgence). Truyền thuyết cho rằng Luther đã treo 95 luận đề của mình trên cửa nhà thờ lâu đài Wittenberg, nơi dành để treo các thông báo của viện đại học. Tuy nhiên, những phản đối của ông đã thổi bùng lên sự bất mãn âm ỉ từ lâu trong sự đè nén.

Xảy ra cùng lúc với những biến động lại Đức là một phong trào khởi phát tại Thuỵ Sĩ dưới sự lãnh đạo của Huldreich Zwingli. Vẫn tồn tại một số bất đồng giữa hai phong trào này dù họ chia sẻ với nhau một mục tiêu chung và đồng ý với nhau về hầu hết các vấn đề liên quan.

Sau khi giáo hoàng quyết định trục xuất Luther và lên án cuộc cải cách, các tác phẩm của John Calvin tạo nên nhiều ảnh hưởng trong việc thiết lập một sự đồng thuận tương đối giữa các nhóm cải cách khác nhau tại Thuỵ Sĩ, Tô Cách Lan, Hung Gia Lợi, Đức và những nơi khác. Việc Anh giáo tách rời khỏi La Mã dưới thời trị vì của Henry VIII, khởi đầu từ năm 1529 và hoàn tất vào năm 1536, đem Vương quốc Anh đồng hành với cuộc cải cách. Dù vậy, những thay đổi tại Anh được tiến hành dè dặt hơn các nơi khác ở Âu châu và người Anh chọn con đường trung dung giữa cựu giáo và tân giáo. (Ngày nay, về thần học, nhiều người Anh vẫn xem mình là Công giáo cải cách hơn là Kháng cách). Như thế phương Tây đã vĩnh viễn bị chia cắt thành hai phần: Công giáo La mã và Kháng Cách.

Những phong trào ảnh hưởng đến Kháng Cách

Người ta có thể xác định được khuynh hướng thần học của một tín hữu Kháng cách nếu biết được người ấy chịu ảnh hưởng của phong trào nào tính từ cuộc cải cách tại Đức và Phong trào Thanh giáo (Puritan) tại Anh cho đến nay.

Phong trào Giám lý

Phong trào Giám Lý (Methodist) bắt đầu vào thế kỷ 18, từ cuộc cải cách Thanh giáo tại Anh, chịu ảnh hưởng của Phong trào Sùng tín (Pietist) tại Đức, sau đó trở về Anh trong mô hình mới thông qua John Wesley và giáo hội Giám Lý cũng như các nhóm tôn giáo nhỏ khác như Quaker. Tích cực trong sống đạo, dấn thân trong công tác xã hội, sâu nhiệm trong kinh nghiệm thuộc linh là những đặc điểm của phong trào Giám Lý. Từ đây hình thành nên Phong trào Thánh khiết (holiness movement), tập chú vào trải nghiệm thánh hoá trong đời sống của tín hữu.

Phong trào Tin Lành

Phong trào Tin Lành (Evangelicalism) khởi phát từ cuối thế kỷ 18, khi các cuộc phục hưng tôn giáo bùng phát trong các giáo phái khác nhau hình thành nên phong trào này. Tín đồ Tin Lành tập chú vào kinh nghiệm qui đạo, sự sùng tín của mỗi cá nhân, nghiên cứu Kinh thánh và vấn đề đạo đức của xã hội, bao gồm tính tiết độ, các giá trị gia đình và sự bình đẳng. Họ bác bỏ chủ nghĩa hình thức trong thờ phụng, giáo nghi và thần học.

Phong trào Ngũ Tuần

Phong trào Ngũ Tuần (Pentecostalism) khởi phát từ Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20, bắt nguồn từ phong trào Thánh khiết. Phong trào này chú trọng vào việc tìm kiếm các ân tứ (gift) của Chúa Thánh Linh được chép trong Tân Ước. Khẳng định việc nói tiếng lạ là chứng cớ của "báp têm bởi Thánh Linh" đã trở nên đặc điểm của phong trào này. Họ cũng tập chú vào việc chữa bệnh bởi đức tin và thực hành các phép lạ. Dưới ảnh hưởng của phong trào này, nẩy sinh hàng trăm giáo phái tại Hoa Kỳ. Cũng phát sinh từ đây phong trào Ân tứ (charismatic movement).

Phong trào Tự do

Phong trào Tự do (Liberalism) nhằm giải thích Thánh Kinh theo cách mới sao cho thích hợp với nhân sinh quan đương thời, phong trào tạo nhiều ảnh hưởng trong các giáo hội truyền thống của cộng đồng Kháng cách, đặc biệt vào cuối thế kỷ 19 với Phong trào Tân phái (Modernist) và Phê bình Kinh Thánh.

Phong trào Nền tảng

Phong trào Nền tảng (Fundamentalism) nhấn mạnh đến những điểm nền tảng của thần học Kháng Cách nhằm bác bỏ các quan điểm của phong trào Tự do, đặc biệt là phương pháp phê bình Kinh Thánh. Phong trào này bộc phát vào thế kỷ 20 chủ yếu tại Hoa Kỳ và Gia Nã Đại trong vòng các giáo phái thuộc phong trào Tin Lành. Họ đặc biệt nhấn mạnh vào thẩm quyền và tính trọn vẹn của Kinh Thánh.

Phong trào Tin Lành Hiện đại

Phong trào Tin Lành Hiện đại (Neo-evangelicalism) bắt nguồn từ phong trào Nền tảng nhưng cố gắng làm giảm nhẹ các quan điểm cực đoan, cùng lúc bổ sung các khuynh hướng mới như hội nhập vào xã hội, dấn thân vào các công tác xã hội, phối hợp ở qui mô lớn công tác truyền bá Phúc âm, nâng cao học thuật biện giáo (apologetics).

Các giáo phái Kháng Cách

Tín đồ Kháng Cách thường thích gọi các giáo hội của họ là giáo phái (denomination), ngụ ý rằng giáo hội, trong cách nhìn của họ, chỉ là một phần trong toàn thể Hội thánh chung. Ít có sự khác biệt thần học giữa các giáo phái và các giáo phái được thành lập thường dựa trên các đặc thù địa dư và bộ máy tổ chức. Khó có được con số chính xác, nhưng ước tính có hàng ngàn giáo phái khác nhau.

Những cộng đồng các giáo phái Kháng Cách

Đa số tín hữu Kháng Cách gia nhập vào một trong các cộng đồng Kháng Cách sau:
•Calvinist/ Cải cách/ Trưởng lão
•Luther
•Baptist
•Anh giáo
•Ngũ Tuần

Có khoảng 590 triệu tín hữu Kháng Cách trên toàn thế giới, bao gồm 170 triệu tại Bắc Mỹ, 140 triệu tại Phi Châu, 120 triệu tại Âu Châu, 70 triệu tại châu Mỹ La tinh, 60 triệu tại Á Châu và 10 triệu tại Úc Châu. Như vậy Kháng cách chiếm khoảng 27% tổng số tín hữu Cơ đốc giáo.

Kháng Cách tại Việt Nam

Đức tin Kháng Cách được truyền bá tại Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 do nỗ lực của các nhà truyền giáo thuộc Hội truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (Christian and Missionary Aliance; C&MA). Năm 1911 thường được kể là năm đánh dấu Kháng Cách đến Việt Nam. Hội thánh Tin Lành Việt Nam (The Evangelical Church of Vietnam) được xem là tiêu biểu cho cộng đồng Kháng Cách, cho đến nay vẫn là giáo hội Kháng Cách có số tín hữu đông nhất. Có lẽ vì vậy danh xưng Tin Lành (Evangelical) thường được dùng thay thế cho Kháng Cách (Protestant). Tin Lành có nghĩa là tin tức tốt lành theo cách gọi của các nhà truyền giáo đầu tiên của Kháng Cách tại Việt Nam.

Có khoảng gần 2 triệu tín hữu Kháng Cách thuộc nhiều giáo phái khác nhau rải rác trên toàn quốc, phần lớn tập trung tại miền Nam, trong số đó có nhiều người thuộc các dân tộc thiểu số tại Tây nguyên.

ST !