N g ư ờ i T i n L à n h Đối Với Việc Thờ Cúng Tổ Tiên Tại Việt Nam




Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là truyền thống lâu đời được lưu truyền qua nhiều thế hệ tại Việt nam, nay cần phải được xét lại theo cái nhìn của kinh thánh.

Việt nam là một đất nước nhỏ bé thuộc phía đông bán đảo Đông dương, thuộc khu vực Đông Nam Á, nhiều truyền thống văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau được tiếp tục lưu truyền cho đến ngày nay. Thờ tổ tiên cũng là một trong những nét độc đáo của người Việt xưa nay, hình thức này đã ăn sâu bén rễ vào trong xương, máu đến nỗi nó đã trở thành một phần của đời sống của người Việt. Nhiều người cho rằng, người ta có thể quên đi một tôn giáo nhưng không thể bỏ đi việc thờ cúng tổ tiên, ông bà. Người viết bài này nhận thấy đã từ lâu, tai tiếng Cơ đốc giáo là đạo bỏ ông bỏ bà đã ảnh hưởng xấu đến việc phát triển niềm tin Cơ đốc tại Việt nam. Vấn đề này cần phải được xét lại và hành động vừa đúng nhãn quan Thánh kinh, vừa giữ được những nét đẹp của văn hoá truyền thống, đem lại ích lợi cho việc vâng theo đại mạng lệnh của Đức Chúa Trời.


I. NGUỒN GỐC THỜ CÚNG TỔ TIÊN


1. Mối quan hệ với người còn sống

Thờ cúng tổ tiên không không phải là tôn giáo. Nó xuất phát từ lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Thành ngữ: Cây có cội, nước có nguồn; chim có tổ và người có tông. Ý nói: Làm người phải biết nhớ tưởng đến nguồn gốc của mình, tức là nhớ đến cha mẹ và ông bà tổ tiên. Lòng thành thương tưởng ông bà, Nước nguồn cây cội mới là tu mi hoặc "Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ, kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con". Khi còn sống, con người trong cộng đồng có mối quan hệ với nhau. Quan hệ gia đình có thứ tự, có giai cấp, anh em, cha mẹ, ông bà, và tổ tông..., "anh em như thể tay chân", "gà cùng một mẹ". Quan hệ cộng đồng, có bà con xóm giềng, "tối lữa tắt đèn có nhau". Trong lúc bệnh hoạn, gặp khó khăn vì khó nghèo giúp nhau trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Vài địa phương từ Bình định ra xứ bắc xem tổ tiên của gia đình dòng tộc có tổ tiên chung của cả làng, tổ tiên của làng chính là tổ tiên của dòng họ, được gọi là tiền hiền, hậu hiền[1]. Quan hệ với xã hội, người Việt nam biết tôn kính những anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước...nên những mối quan hệ này trở thành mật thiết, có giai cấp và có giá trị trong đời sống hiện tại. Đất nước ta vào giữa cuối thế kỷ 16, khi Tạ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh Chúa Nguyễn mở cõi vào phương Nam miền Tây sông nước. Mỗi gia đình miền Trung có thể theo ngài vào Nam, ai có sức phát hoang khai khẩn, được bao nhiêu thì làm chủ bấy nhiêu. Nhiều gia đình chia tay, người cha hoặc người mẹ cùng con cả theo Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam mở đất, không họ hàng, không thân nhân, họ phải kết thân với nhau theo tuổi tác, giúp nhau trong canh tác, làm sui gia, dần dà tạo nên làng xóm. Trong bối cảnh xa quê hương mở đất phương xa, gặp nạn "dưới sông sấu lội, trên bờ cọp đua" hoặc bệnh tật có người qua đời, người còn lại trở nên cô đơn tưởng nhớ người đã khuất.


2. Mối quan hệ với người đã khuất

Thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng mà thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác lập “mối liên hệ” giữa người sống với người chết, giữa người thế giới hiện tại và thế giới tâm linh. Là sự thể hiện quan niệm về nhân sinh của người Việt Nam: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”. Nếu như tôn giáo thường tuyệt đối hóa đời sống tinh thần, hướng con người về thế giới siêu thoát, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tuy có hướng con người về với quá khứ, song lại rất coi trọng hiện tại và tương lai[2]. Tín ngưỡng tổ tiên còn là sợi dây liên kết giữa những con người trong cuộc sống hiện tại. Tình nhân ái trong cộng đồng được xây dựng, củng cố cả ở quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa người quá cố và người đang sống. Người Việt nghĩ rằngngười chết vẫn còn quanh quẩn đâu đó trên trần thế này mặc dù mắt thường không nhìn thấy. Người quá cố có thể nhận biết được tư tưởng của người đang sống cần gì. Ngược lại, thì người còn sống cũng muốn làm cho người đã khuất có được nhu cầu như còn sống. Dân gian có câu"Dương gian-Âm phủ đồng nhất lý" nói lên sự nhận thức của người đang sống cho rằng cõi âm cũng giống như cõi dương trần, dù ta không thấy được bằng mắt nhưng người đã khuất cũng có những nhu cầu giống như người còn sống, lại có quyền lực vô song.Một số địa phương còn coi tổ tiên của gia đình chính là các thần linh thiêng luôn ở cạnh có thể ban phước, phù hộ, độ trì cho người thân, con cháu[3], nói theo cách khác, Tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên là quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết thống) bằng con đường hồn về chứng kiến, theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ[4].


3. Hình thức thờ cúng

Vì do sự nhận thức trên, người Việt nam đã có truyền thống quan tâm đến chuyện lo liệu cho người thân qua đời và sau khi qua đời. Người ta lập bàn thờ để cúng, vái. Ngày cúng kỵ là ngày người quá cố qua đời. Gia đình con cháu từ các nơi tụ về và dự phần tài chánh hoặc vật cúng trong ngày giỗ. Người trong gia đình đi qua bàn thờ phải cúi đầu bước nhẹ kính cẩn giống như ông bà, cha mẹ đang hiện diện nơi đó. Hành lễ cúng gồm các phần: Nghi vật, nghi trượng và nghi thức. Nghi vật là những thứ vật dành cúng để người quá cố về "hưởng". Nghi trượng là những thứ bày trí trên bàn thờ, như lư hương, chân đèn, bài vị...Nghi thức là cách bày tỏ của con cháy còn sống, tuỳ thuộc vào mỗi địa phương. Thông thường là sự bày biện hương, đăng, trà, quả, các món ăn, món uống...rồi người đứng đầu gia đình thắp hương van vái với người quá cố ban phước cho con cháu trong gia đình may mắn, bình an...sau đó là từng người theo thứ tự từ trên xuống dưới. Nói chung, tất cả lòng thành đều được thể hiện ngay thì giờ cúng kiến thiêng liêng đó.
Nhiều người giàu có còn xây dựng nhà từ đường thờ tự cả tổ tiên nhiều đời mà con cháu cũng chẳng biết dùng từ ngữ để gọi, chỉ gọi chung là nhà từ đường, trong đó dành thờ phượng tổ tiên qua đời là xong. Đối với những gia đình khá giả như vậy,
Hàng năm con cháu đổ xô về không chổ chứa. Trong quyển Phong Tục Việt Nam, học giả Phan Kế Bính viết: Mỗi tuần tiết, hoặc ngày kỵ, hoặc mùa có của mới, gạo mới, hoặc khi có việc hiếu hỉ, việc to, việc nhỏ, nhà kiệm nhà phong, hoặc dùng bò lợn dê gà hoặc làm một vài mâm cỗ, hoặc dùng đồ hoa quả bánh trái, hoặc thủ lợn mâm xôi...tuỳ thế nào cho tiện thì thôi. Nhưng thế nào cũng phải có cơi trầu, bát nước trong, một hồ rượu mới là thành lễ. Đốt đèn, đốt hương tuỳ việc mà khấn vái gia tiên. Đồ cúng cấp chưa cúng thì dẫu lưng cơm thừa, bát canh dở cũng không ai dám ăn trước, ấy cũng là một lòng rất thành kính vậy[5]. hằng năm khi đến ngày người chết qua đời, con cháu dù bận rộn cũng phải nhớ đến làm giỗ, chứ không phải cúng giỗ. Vì chỉ những người theo tôn giáo có chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên mới cúng, những người theo tôn giáo không chấp nhận sự thờ cúng thì chỉ làm kỷ niệm ngày người thân đã chết, chỉ làm giỗ mà không cúng[6].




II. HỘI NHẬP VĂN HOÁ ĐỊA PHƯƠNG


1. Tiếp cận tập tục văn hoá địa phương. Việc thờ cúng tổ tiênông bà có thể nói đây là phong tục mang ý nghĩa "tỏ lòng biết ơn" của người Á đông nói chung và riêng của người Việt nam. Họ quan tâm trong cuộc sống hiện tại lẫn bày tỏ lòng tưởng nhớ ngay sau khi người thân qua đời. Bất cứ hình thức nào ngoài tín ngưỡng thờ cúng này dường như khó có thể thay thế hoàn toàn. Cadiere, nhà văn hoá, Linh mục người Pháp đã dày công nghiên cứu Tín ngưỡng và Tôn giáo của người Việt, ông phát hiện ra một vấn nạn về phạm trù đạo mà người Việt sử dụng, như đạo làm người, đạo làm con, đạo làm cha mẹ, đạo làm vợ chồng, đạo hiếu, đạo vua tôi, đạo trung thần...cái gì cũng dùng chữ đạo để nhấn mạnh, nó biến hoá vô cùng và rất phức tạp, chằng chịt các mối tương quan, khó lòng phân loại rạch ròi các phạm trù, hình thái kết hợp...Đạo tiếp cận với cái TÂM chứ không phải qua con đường LÝ TRÍ[7]. Chính cái khó nhận ra nên cũng khó áp dụng trong việc truyền giáo nếu như chưa tiếp cận với tín ngưỡng này. Xét kỷ vấn đề này, có thể nhận thấy việc tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên cũng rất phù hợp với giáo lý Cơ đốc qua nhiều điểm tích cực.


2. Phân tích tập tục văn hoá địa phương. Người Việt biểu hiện lòng hiếu thảo đối với người thân mình trong lúc còn sống và khi đã qua đời. Họ nghĩ linh hồn vẫn còn tồn tại và luôn nhận biết người đang sống. Biết linh hồn còn tồn tại sau khi chết nhưng không biết đang ở đâu. Thờ ông bà tổ tiên mà không biết thờ ai? nhưng vẫn có lòng thành cung kính. Tưởng nhớ ông bà, tổ tiên cũng chính là khía cạnh tâm linh mà chỉ có con người thật mới có được điểm này.Khi người ta dùng từ ngữ "đạo hiếu" cũng có nghĩalà nói lên bổn phận của mình đối với đối tượng tôn thờ. Ngày giỗ còn gọi là ngày kỷ niệm ngày qua đời, là ngày mà con cháu gặp nhau để kính nhớ tổ tiên và bày tỏ thái độ lòng thành của mình. Điểm chung, là người Việt thích thờ phượng, thích đi sâu vào yếu tố tâm linh và khao khát được ban phước[8].


III. TRUYỀN GIÁO


1. Thay đổi nhận thức.

Cơ đốc giáo cần phải có cái nhìn tích cực đối với tín ngưỡng này, cũng chớ nên quá khắc khe, tìm cách loại bỏ tất cả những gì đã tồn tại trong suốt mấy nghìn năm văn hiến. Nhiều người tin Chúa tiên phong trong vài chục thập niên trước đã tìm cách loại bỏ truyền thống để áp dụng triệt để theo cách thức của phương Tây, lấy điều răn 1, 2 làm tiêu chuẩn thờ phượng cho tất cả. Trong ngôn ngữ Do thái, chữ thờ cha kính mẹ có nghĩa là tôn vinh cha mẹ, vì cha mẹ là hình ảnh của Thiên Chúa. Mỗi dân tộc có hình thức bày tỏ lòng tôn kính này, người phương Tây ôm hôn, người Châu Á chấp tay vái lạy làm cho nhiều người bị dị ứng xem thái độ này như sự tôn thờ nên tìm cách bài xích. Những gia đình theo Tin lành còn giữ truyền thống bị lên án là làm sai lời Kinh thánh. Bị coi là thờ ma lạy quỉ. Những người tin Chúa đơn độc, khi đối diện với ngày lễ giỗ của gia đình cũng không dám dự phần tài chính vì sợ tham gia cúng tế hình tượng. Có một gia đình tôi được biết là gia đình Tin lành tổ chức lễ kỷ niệm ngày qua đời của cha mẹ để nhắc nhở về công lao hầu việc Chúa của cha mẹ cho anh em trong nhà noi theo, cầu nguyện để Chúa ban cho thêm năng lực theo và hầu việc Chúa. Việc làm này tồn tại qua nhiều năm, có vài bạn hữu được mời đến và nghe chia sẽ Phúc âm rồi tin Chúa. Một ngày nọ có vị mục sư mới chuyển về được gia đình mời đến. Sau đó cả nhà phải lắng tai nghe lời phê bình của vị Mục sư này một cách gay gắt, như: người chết đã về nước Chúa không cần phải kỷ niệm, hoặc TLH không khuyến khích làm việc này...thế là vài thân hữu đến dự lấy làm lạ quá vì Tin lành cấm thờ kính người quá cố.

Chúng ta cần phải phân biệt giữa sự tôn kính và tôn thờ. Sự tôn kính luôn là nền tảng đạo đức giúp cho người ta biết kính người trên, nhường nhịn người dưới không có nghĩa là thờ phượng. Thờ phượng Thiên Chúa là nhận biết xuất xứ loài người, sự yếu đuối bản thân do tội lỗi và ân sủng của sư cứu chuộc và biết chắc là hưởng được sự sống đời đời. Thiên Chúa không bao giờ chấp nhận sự bất hiếu của con người và Ngài luôn bày tỏ chính Ngài như hình ảnh người Cha (Hô-sê 11:1-4; Ê-sai 1:2; Giê-rê-mi 3:19) và bày tỏ Ngài như người Mẹ (Ê-sai 49:15; Hô-sê 11:8; Giê-rê-mi 31:20) . Sớm hơn nữa là điều răn ràng buộc con người vào mối quan hệ cha mẹ là phải HIẾU-KÍNH (Xuất 20:12). Khổng Tử có lời dạy, nếu chỉ Hiếu (yêu thương) mà không kính thì chẳng khác vì thương yêu loài vật. Đối với Cha-mẹ-Ông-Bà, ngoài việc HIẾU, ta còn phải KÍNH nữa.


2. Áp dụng các phương thức truyền giáo.

Trước hết, chúng ta nhận thấy Kinh thánh rất chú trọng đến việc hiếu kính. Trong Phúc âm Ma-thi-ơ Chúa Giê-xu đã nghiêm túc phê bình mấy người Pha-ri-si (Mat 15:3-9). Vì thế, người tham gia truyền giáo không nên tìm cách phá đổ mà nên thay thế hình thức truyền thống theo mô hình Cơ đốc giáo. Phao-lô là một trong những con người có kinh nghiệm truyền giáo trong nhiều bối cảnh văn hoá khác nhau. Trong thư tín cho người Cô-rinh-tô ông chia sẽ, Đối với người Do Thái, tôi trở nên giống như người Do Thái để chinh phục người Do Thái. Đối với người sống theo Kinh Luật, tôi sống như người theo Kinh Luật, dù tôi không bị Kinh Luật ràng buộc, để chinh phục những người theo Kinh Luật. 21 Đối với những người không có Kinh Luật, tôi sống như người không Kinh Luật, không phải tôi không có Kinh Luật của Đức Chúa Trời, vì tôi có Kinh Luật của Chúa Cứu Thế, để chinh phục người không Kinh Luật. 22 Đối với người yếu kém tôi trở nên như người yếu kém để chinh phục họ. Tôi trở nên mọi sự cho mọi người để bằng mọi cách cứu rỗi một vài người. I Côr9:20-22[9]. Cần phải xoá bỏ những thành kiến tôn giáo hoặc hình thức tín ngưỡng, như cúi đầu, chấp tay hoặc tổ chức kỷ niệm ngày qua đời của người thân, nhắc nhở công lao của họ khi còn sống để con cháu noi theo rồi thông công với nhau vui vẻ.


- Đối với gia đình mới tin Chúa, chớ nên quá khắc khe, nói rằng từ nay có Chúa rồi, đừng thờ ma lạy quỉ nữa...tôi đã đi cùng nhiều anh chị em truyền giáo từ nam ra bắc, khi nhiều người tin Chúa, trước lúc chuẩn bị cầu nguyện có một chị em tuyên bố như vậy đã làm cho họ thay đổi ý định tin Chúa. Kinh nghiệm của cá nhân, tôi thường hay khuyến khích họ tôn trọng người qua đời, giúp họ treo ảnh kỷ niệm trên tường cách trang nghiêm chứ không bảo đốt bỏ. Điều trái ngược, khi chúng ta nói linh hồn người chết ở một chỗ qui định cho người tin hay không tin, thì việc cúng tế cớ gì linh hồn người chết về ăn được, có chăng là tìm cơ hội để giải thích việc làm như vậy là vô ích, người chết không hưởng gì qua việc cúng, như vậy chẳng khác nào tự gạt mình. Nhiều người giải thích là không nên cúng người chết, theo cách nói này như là đồng thuận rằng linh hồn người chết có thể về ăn thật?.


- Hướng dẫn người nghe thực hành hiếu kính cha mẹ khi còn sống, khi chết phải chôn cất tử tế là trọn bổn phận làm con cháu. Mình nên chỉ dẫn cách nào đúng với Kinh thánh và lương tâm người mới tin cũng không bị cắn rứt và để người ta hiểu nhiều hơn về lời dạy của Chúa đối với người thân hơn là cố gắng đả phá. Trước đây có vài anh em còn yêu cầu dẹp bỏ bàn thờ vừa ngay khi mới tin Chúa. Ba mươi bốn năm trước đây, tôi là người cố gắng giải thích điều này với gia đình và dòng họ vì họ bảo tôi là người đi theo cái đạo bỏ ông bỏ bà.


- Giáo hội cần có văn bản chung, cụ thể cho từng trường hợp liên quan đến yếu tố văn hoá nhạy cảm như vậy, để khi áp dụng vào thực tế không bị kết án lẫn nhau.


IV. KẾT LUẬN


Trong khuôn khổ bài viết ngắn khó lòng trình bày hết tất cả những điều quan trọng liên quan đến vấn đề này. Người xây dựng nền tảng thần học cần phải nghiên cứu kỷ lưỡng những yếu tố nào không ảnh hưởng đến tín lý thì cứ áp dụng vào việc bảo tồn theo nền văn hoá truyền
thống, không nên kỳ thị, thiếu suy xét khiến cho việc truyền giáo mất đi hiệu quả.


Những gì Kinh thánh không lên án, chúng ta cũng đừng cố gắng để lên án. Nhìn lại kết quả trong suốt 100 năm qua, người ta đã làm mất đi kết quả truyền giáo hiệu quả vì cứ mãi lo việc xây "hàng rào"

Việc áp dụng truyền giáo cho người thờ cúng tổ tiên cần phải được điều chỉnh lại, nhận định đúng bản chất của nó là gì? Cần được đưa ra thảo luận rộng rãi giữa các chức sắc tôn giáo, đưa ra quyết định bằng văn bản, và phổ biến trong các buổi học Kinh thánh, giúp cho tất cả mọi người hiểu rõ việc đúng, việc sai vì đây còn liên quan đến niềm tin nên không được tuỳ tiện áp dụng cho suy nghĩ cá nhân. Nếu vấn đề vướng mắc này được tháo gở, hi vọng người Việt nam cho dù có ảnh hưởng về vấn đề thờ cúng đến đâu cũng có thể vui lòng tiếp nhận Chúa, và chúng ta sẽ có cơ hội mang lại kết quả nhiều hơn, dâng sự vinh hiển lên cho Đức Chúa Trời.




T. Nguyễn