Kết quả 1 từ 2 trong 2

Đề Tài: C a o Đ à i

  1. #1
    Ngày, tháng tham gia
    Aug 2007
    Bài Gởi
    3,084
    Thanks
    82
    Thanked 747 Times in 568 Posts

    Mặc Định C a o Đ à i


    C a o Đ à i



    VÀI NÉT ÐẠI CƯƠNG VỀ ÐẠO CAO ÐÀI

    Bài Thuyết Ðạo
    nhân ngày Họp Ðạo lần đầu tại Chicago
    Chủ Nhật 21-09-2003

    Giáo Hữu NGỌC SÁCH THANH



    Kính thưa quí Thiên Phong Chức Sắc, Quí quan Khách.
    Quí Nhân sĩ, quí thân hữu, quí Niên Trưởng, quí anh chị em Tín Hữu thân mến.

    Trước nhất, tôi xin thành thật cảm ơn Ban Tổ chức đã dành cho tôi được trình bày cùng liệt quí vị một vài nét đại cương về Ðạo Cao Ðài. Tôi cũng xin thành tâm cầu nguyện cho buổi họp mặt thân hữu ngày hôm nay có một kết quả tốt đẹp, mọi người chúng ta được cảm nhận cho nhau bằng một tấm lòng kính mến và thương yêu chân thật. Tôi cũng xin trân trọng chào mừng tất cả liệt quí vị đã hoan hỷ đến tham dự với một sự đông đủ và tích cực.

    Thưa quí vị,

    Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ được gọi tắt là Ðạo CAO ÐÀI. Có một ý nghĩa là Ðại Ân Xá Kỳ Ba, là một nền tôn giáo mới do Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế tá danh là Ðức Cao Ðài dùng thần cơ diệu bút lập nên từ đầu thế kỷ 20 (1920) tại nước Việt Nam.

    Ðạo Cao Ðài ra đời, đánh dấu một kỷ nguyên cứu độ lần thứ ba của Ðức Thượng Ðế đến với con người kêu gọi con cái của Ngài sớm tỉnh thức tu hành để Hiệp Nhất cùng Người trong buổi đời Hạ Ngươn mạt kiếp nầy đầy đau khổ tội ác tai nạn vì chiến tranh, vì thù hận giữa con người cùng con người, giữa tôn giáo, giai cấp và bất công trong xã hội tràn ngập khắp trên hoàn cầu nầy chưa có một ngày nào nhân loại được cảm thấy đời sống của mình được an ổn hạnh phúc tự do tự tại.

    Ngoài mục đích độ rỗi nhân sanh hồi đầu hướng thiện, lo tu hành để đạt đến sự giác ngộ giải thoát về phần linh hồn. Ðạo Cao Ðài còn có một sứ mạng vì nhân sinh, mở ra một kỷ nguyên hòa hiệp nhân loại theo luật tuần hườn tiến hóa vạn thù qui nhất bản, hướng dẫn cho con người xóa bỏ mọi ranh giới, phân chia, tranh chấp, để giúp xây dựng cho con người đi đến một thế giới đại đồng, hòa bình, an lạc và hạnh phúc.

    Chủ trương của Ðạo Cao Ðài là: Thế Ðạo thì Ðại Ðồng; Thiên Ðạo thì Giải Thoát giác ngộ viên mãn.

    Vì vậy, Ðức Thượng Ðế đã chọn mảnh đất Việt Nam làm một xuất phát điểm để mở mang phổ truyền Ðại Ðạo (vì dân tộc Việt Nam vốn có một truyền thống văn hóa đạo đức sâu dày, đã có sẵn một ảnh hưởng lớn về Tam Giáo Ðạo nhằm giúp cho con người quay trở về nguồn cội của mình mà cũng gọi là quy nguyên phản bản).

    Trên con đường trở về nầy, con người ngước mắt nhìn Ðạo, nhìn Trời ở trước mặt. Khi đó có người bỏ lại sau lưng cái bóng của chính mình, tức là bỏ đi cái ngã chấp, cái ta ích kỷ hẹp hòi cái vô minh ràng buộc để rồi quen dần với cái sống vong kỷ duy tha, phá chấp diệt trừ mê vọng, tiến dần về mặt tâm linh đạo đức, quân bình giữa tâm và vật. Loài người sẽ có đủ đầy cả về trí năng phát minh khoa học lẫn đạo đức lương tri. Lúc bấy giờ có thể đạt đến trình độ trên thì thông thiên, dưới thì đạt địa, nghĩa là đạt đến đỉnh cao của giá trị làm người cũng có thể gọi là Thiên Nhân Hiệp Nhất hay là Phối Thiên, hay Ðạt Ðạo.

    A. GIẢI PHÁP CỦA ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ:

    Muốn có thế giới Ðại Ðồng, thì khơi động trong nhân loại tinh thần Hòa Ái, Thương Yêu. Mọi người phải nhìn nhận là anh em với nhau có cùng một Ðấng Cha Chung là Ðức Thượng Ðế tối cao. Trước nhất là tạo thế nhân hòa trong các tôn giáo và giữa các tôn giáo với nhau được hiểu biết cảm thông tôn trọng kính mến cho nhau nhiều hơn nữa. Cần phải dẹp bỏ những thù nghịch vì lý do khác biệt tín ngưỡng, giai cấp, chủng tộc và tôn giáo điều v.v...

    B. ÐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO:


    Trong giáo lý Cao Ðài thường gợi lên, soi sáng lý đồng nguyên và quy nguyên (vì từ nguồn gốc Ðại Ðạo phát sinh Tam Giáo Ðạo, rồi từ Tam Giáo Ðạo lại trở về nguồn gốc Ðại Ðạo) khai phóng tâm linh con người, đưa con người tôn giáo vươn lên tầm vóc Ðại Ðạo, lúc đó con người có thể ngước mắt lên nhìn bầu trời to rộng, vượt ra đại dương trời nước bao la, chắp cánh bay bổng khắp bốn phương trời để phục vụ nhân sinh, phụng sự thiên cơ, phụng sự Ðại Ðạo, làm theo lòng trời đất.

    Ðưa con người tôn giáo vươn lên tầm vóc Ðại Ðạo, đây chính là thể hiện đến trình độ phá chấp diệt ngã, không chấp vào hình danh sắc tướng của tôn giáo. Lúc đó, chính là đã hòa hiệp cho nhau trong lý đạo. Vì có dẹp bỏ được sự chấp kiến hẹp hòi đó mới có thể hiểu biết cho nhau, chung lo sứ mạng độ đời đười hữu hiệu kết quả. Và tự nó sẽ đẩy lùi tất cả về cho quá khứ những câu nệ chấp nê, mâu thuẫn, tranh chấp thấp cao, thù nghịch và bất công. Mặc dù hiện nay các tôn giáo có những khác biệt về kinh kệ lễ nghi, giáo điều, tổ chức tùy theo phong tục văn hóa địa phương và thời điểm nhân loại chưa mở mang để lập giáo độ đời, thời gian lúc bấy giờ nhân loại còn trở ngại về những thông tin liên lạc. Tuy nhiên, trong tiểu dị có đại đồng vì các tôn giáo từ ngàn xưa đều nhằm mục tiêu phục vụ giúp ích cho con người đi đến đạt đạo và giải thoát cứu cánh viên mãn. Các tôn giáo cũng luôn luôn thể hiện một tấm lòng bác ái vị tha đến khổ nạn của chúng sanh bởi tình thương của các Ðấng Giáo Chủ các tôn giáo.

    Nói đến tôn giáo là nói đến Tình Thương - dù muốn gọi đó là tình thương của Ðức Thượng Ðế hay Ðức Phật - vì tình thương không phân biệt màu da sắc tóc, không biên cương giới hạn nào cả. Từ đó, Ðức Cao Ðài kêu gọi và mong đợi một sự hiệp nhất, tinh thần bình đẳng, hành động hài hòa nhất quán của các tôn giáo, hiệp thành một thực thể trong sứ mạng cứu thế kỳ ba nầy. Và, Ðức Chí Tôn, Ngài hằng dạy rằng Ngài là Cha của Sự Thương Yêu, Ngài là Sự Thương Yêu và Sự Sống. Như vậy, nếu tôn giáo mà thiếu Tình Thương và Hòa Hợp chính bởi vì thiếu vắng Thượng Ðế tính, Phật tính, hay Thiên tính, như quả trứng gà không có ngòi gà. Từ đó quả trứng không thể trở thành con gà được.

    C. ÐỐI VỚI NHÂN LOẠI:


    Giáo lý Cao Ðài xây dựng lại ý thức con người, kêu gọi phục hồi nhân bản để đạt đến giá trị đích thực, xứng đáng với phẩm vị làm người, có nghĩa là phục hồi mẫu số chung để tạo thế nhân hòa. Ðó vừa là phương cách, vừa là điều kiện để các dân tộc có thể sống hài hòa với nhau trong hòa bình an lạc, hạnh phúc tiến bộ về mọi phương diện từ vật chất đến tâm linh tinh thần. Ví dụ: Trong số học, phải qui đồng mẫu số chung trước khi cộng hai hay nhiều phân số không đồng mẫu số. Con người là những phần tử trong cộng đồng nhân loại, giống như những phân số chưa có mẫu số chung. Cho nên, nếu loài người muốn sống chung hòa bình, công hưởng cảnh an vui thạnh trị thì con người phải tiến hóa để có mẫu số chung: đó là nhân bản, là bản vị con người, bản chất con người phải giống Trời. Nếu con người không chịu phục hồi nhân bản, cũng như cây đàn không được điều chỉnh so dây cho đúng điệu cung bậc thanh âm trầm bổng du dương thì làm sao có thể hợp tấu được khúc nhạc hòa bình mà hiện nay nhân loại đang khao khát được thưởng thức?

    Giáo lý Cao Ðài nhấn mạnh rằng ngày nào mà nhân bản con người chưa được đề cao và thực hiện phục hồi, thì thế giới hòa bình mà nhân loại đang mơ ước vẫn chỉ là điều viễn vông không tưởng.

    Trên phương diện Thế Ðạo, nhân bản là điều kiện để tạo thế nhân hòa, đem lại hòa bình cho thế giới.

    Trên phương diện Thiên Ðạo, nhân bản cũng là điều kiện tất yếu để giúp cho Tiểu Linh Quang (con người) có thể trở về hiệp một cùng khối Ðại Linh Quang (Thượng Ðế): bản chất con người có giống như Trời thì mới hội nhập cùng Trời.

    Nhận diện được phần chính danh chính vị của con người, biết rõ được mình là một điểm Tiểu Linh Quang từ một khối Ðại Linh Quang mà ra, đó là con người ý thức được nhân bản của chính mình. Vì vậy mà Tiên Sinh Trần Cao Vân đã ngạo nghễ nói lên tâm tư của mình bằng một bài thơ rất có ý nghĩa nhất. Ngài nói:

    Trời Ðất sinh Ta có ý không?
    Chưa sinh Trời Ðất có Ta trong,
    Ta cùng Trời Ðất ba ngôi sánh,
    Trời Ðất in Ta một chữ đồng,
    Ðất nứt Ta ra Trời chuyển động,
    Ta thay Trời mở đất minh mông,
    Trời che Ðất chở Ta thong thả,
    Trời Ðất Ta đây đủ Hóa Công.

    Nguyên Hán Văn:

    Thiên Ðịa sinh ngô hữu ý vô?
    Vị sanh thiên địa hữu hàm ngô,
    Thiên Ðịa lập Tam Tài lập,
    Thiên Ðịa ngô đồng nhất tự đồ,
    Ngô xuất địa thời thiên chuyển động,
    Thiên giao ngô tịch địa bao lô,
    Ðịa thiên tải phúc ngô sanh lạc,
    Thiên địa hóa công ngô hữu hồ.

    D. NHỮNG ÐẶC ÐIỂM CỦA TÔN GIÁO CAO ÐÀI:

    1. Ðao Cao Ðài do chính Ðức Thượng Ðế giáng trần lập đạo, Ngài trực tiếp làm Giáo Chủ chứ không giao cho tay phàm của con người, vì nếu một người phàm làm Giáo Chủ thì không thể tránh khỏi sự kỳ thị về chủng tộc và màu sắc của dân tộc địa phương thuộc khối nầy hoặc khối kia.

    2. Hình tượng để thờ phượng chỉ là một Thiên Nhãn, có một giá trị biểu tượng thiêng liêng, cũng không mang một hình tượng màu sắc của một sắc dân nào cả.

    3. Ðấng Thượng Ðế trong Ðạo Cao Ðài vừa là vô ngã, vừa là hữu ngã. Trong kinh cúng Tứ thời có câu:

    Ðại La (vô ngã) Thiên Ðế (hữu ngã)
    Thái Cực (vô ngã) Thánh Hoàng (hữu ngã)...

    4. Ðạo Cao Ðài cũng không duy tâm, cũng chẳng duy vật, mà chủ trương tâm vật bình hành, quân bình đời sống vật chất lẫn tâm linh.

    5. Ðạo Cao Ðài chủ trương phá chấp triệt để. Cao Ðài chẳng phải là Cao Ðài mới thật là Cao Ðài. Với tinh thần phá chấp nầy Cao Ðài xem Ðạo trọng hơn hình tướng tôn giáo. Sự định nghĩa phân biệt giữa tôn giáo Ðạo hàm súc một tinh thần phá hình danh sắc tướng.

    6. Tôn giáo là bề mặt, Ðạo là chiều sâu.

    7. Tôn giáo là cánh cửa đưa nhân sanh vào Ðạo.

    8. Tôn Giáo là con đò, Ðạo là bến đỗ; khách đến bến phải rời đò để đi lên bờ.

    9. Ðạo Cao Ðài chủ trương vừa nhập thế, vừa xuất thế. Nhập thế để làm tròn sứ mạng vi nhân, vừa phục vụ tha nhân vừa tạo được nền tảng âm chất hỗ trợ cho bước đường tu giải thoát của chính mình. Giáo Lý Cao Ðài đã xác nhận.

    10. Cao Ðài Giáo lấy con người làm điểm chính để phục vụ lợi ích cho con người trên tinh thần:
    a. Thuần Chân Vô Ngã.
    b. Thuần túy đạo đức.
    c. Vạn giáo nhất lý.

    Trần gian chính là môi trường tiến hóa sinh động nhất của vũ trụ càn khôn với đủ đầy những màu sắc vui khổ, xấu tốt để trui đúc rèn luyện tâm chí con người học hỏi tiến hóa. Phật Tiên từ nơi trần thế mà thành, sen cũng từ nơi bùn lầy nước đọng mà có hoa thơm quí giá... Thế nên người đi tu Cao Ðài không phải chán đời để tìm một sự an nhàn thoát tục xa lánh trần gian không dấn thân phục vụ cho tha nhân là một nhận định rất sai lầm đáng tiếc. Cho nên mọi người ai ai cũng có thể trở thành môn đệ Ðức Cao Ðài để bắt chước như Trời làm theo lòng của Trời, làm những việc như Trời là phải tự Thánh Hóa Thần Hóa cái tâm của mình như Thánh Giáo Cao Ðài đã dạy.

    Tu hành là học làm Trời.
    Phải đâu kiếp kiếp làm người thế gian.

    và Ngài dạy rằng:

    Chớ nên ẩn núp núi xa,
    Xưa nay các Ðạo hiểu ra rất lầm.
    Ðạo đâu, Ðạo tại nơi Tâm,
    Thì đâu có phải kiếm tầm đâu xa?

    (Ðại Thừa Chơn Giáo Giáo),

    E. MỘT VÀI ÐIỂM CƠ BẢN VỀ Ý THỨC HỆ CAO ÐÀI:

    Người tín đồ Cao Ðài tin tưởng vào thuyết Thiên Ðịa Vạn Vật Ðồng Nhất Thể. Theo đó, con người, vạn loại và các đẳng thần, thánh, tiên, phật đều chung cùng một bản thể. Bản thể đó là ánh sáng thiêng liêng (linh quang). Thượng Ðế là Ðại Linh Quang, đồng bản thể với Trời nên con người hãy biết mở rộng tình thương đến với vạn vật, vạn loài mà không nên sát hại và hủy diệt chúng sanh.

    Vậy thì, theo giáo lý Cao Ðài, cái nhất thể đó là Ðại Linh Quang, là Thượng Ðế... Nho Giáo gọi là Thái Cực với sự phóng phát đó sanh hóa được diễn tả là Thái Cực sanh lưỡng nghi, sanh tứ tượng, sanh bát quái và sanh ra muôn ngàn vạn hữu chúng sanh đến vô cùng vô tận vô biên.

    Lão Giáo cũng chủ trương vũ trụ vạn vật đều do một bản thể sinh hóa ra. Bản thể ấy Lão Tử gọi nó là Ðạo. Ðạo khi chưa sinh hóa ra vũ trụ còn gọi là Hư, Hư Vô, Hư Không chaV?ng phải là hư ảo, mà là thực thể bất khả tư nghị, vô biên tế của vũ trụ. Sách Xướng Ðạo Chơn Ngôn viết: Vạn vật bắt đầu từ Không, Không sanh ra Nhất, Nhất sanh ra Vạn. Vạn trở về Không. Không là thủy tổ của muôn loài.

    Trong Phật Giáo, tuy chính Ðức Phật không bàn về bản thể vũ trụ, nhưng sau Ngài thì các Phật gia chư Tổ cũng có chủ trương Thiên Ðịa Vạn Vật Nhất Thể; Cho nên trong giáo lý nhà Phật cũng có nói về Chân Như Bản Thể, Không Tịch, Hư Vô, Không Hư Không... để mô tả về bản thể. Ðức Lục Tổ Huệ Năng dạy: Hư Không hàm tàng mọi sắc tướng, vạn vật bao gồm nhật nguyệt tinh cầu, sông núi đất đai, suối nguồn, cây cối bụi rừng, người lành kẻ dữ, cái hay cái dỡ tốt xấu, tất cả mọi núi Tu Di cũng đều ở trong Hư Không. Tất cả đều như vậy (Pháp Bảo Ðàn Kinh). Ðể cho Bản Thể cũng đượm màu Phật Giáo, các Phật gia còn gọi Bản Thể là Phật Tính, và nguyên lý thiên địa vạn vật đồng nhất thể được diễn tả là: Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tính.

    Diễn đạt ý nầy trong Thánh Giáo Cao Ðài có dạy:

    Có trời, có đất, có nhân vật,
    Có Ðạo mầu trời đất định phân.
    Thế nên khắp chốn hồng trần,
    Ðều do Lý Ðạo tạo phần Hữu Vô.

    1. Thiên Ðịa Vạn Vật Tương Ðồng:

    Bởi lý do rất đơn giản là nhất bản tán vạn thù. Vốn từ một gốc sanh ra thì vạn vật phải tương đồng nhau về bản chất, nghĩa là giống nhau về chất ẩn tàng bên trong là sự sống, và từ một gốc mà ra thì tất cả đều tương đồng với cái gốc chung nầy là Trời, là Thượng Ðế. Ðiểm tương đồng nầy còn được gọi là mầm lành, giống thiện, Phật Tánh, Thượng Ðế Tánh hay tự nhiên Tính. Cái bản thể chung ấy, cái nhất thể ấy dù ở dưới khía cạnh nào, dù ở trạng thái động tỉnh, đều nhất thiết có ẩn tàng nơi mọi sở vật thực tại, hoặc lớn nhỏ. Thì đấy gọi là Thiên Ðịa Vạn Vật tương đồng.

    2. Thiên Ðịa Vạn Vật Tương Quan:

    Ðể làm sáng tỏ mối liên hệ giữa vạn vật trong Vũ Trụ Trời Ðất, giáo lý Cao Ðài đã trình bày sự tác động qua lại của thiện địa vạn vật như sau:

    Chính các nguồn năng lượng của trời, phong thủy hỏa của đất và tinh khí thần của con người luôn luôn tác động lẫn nhau tạo thành mối liên quan triền miên ấy. Lấy sự biến dưỡng và hóa sinh của con người làm thí dụ, mối tương quan mật thiết ấy được thể hiện qua lời dạy của Ðức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: Các vật thực con người ăn uống vào dạ dày tỳ vị lại biến ra khí, khí biến ra huyết, ra tinh. Nó có thể hườn sanh ra nhơn hình mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhân sinh (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển). Ta lại biết các vật thực là những sinh vật hấp thụ tinh khí của trời đất. Vì vậy mà trời, đất, vạn vật và con người có sự tương quan rất là mật thiết với nhau. Ngày nay các khoa học gia cũng khám phá ra được mối tương quan tương đồng trong vũ trụ qua lời nhận xét của nhà Vật Lý không gian Fritiof Capra đã nói:

    Là một nhà vật lý, tôi biết cát, đá, nước và không khí quanh mình đều được cấu tạo bằng phân tử và nguyên tử, chúng đang dao động, bản thân chúng được các hạt nhỏ hơn tạo thành, các hạt đó cũng tương tác lẫn nhau để sinh ra hay hủy diệt các hạt khác. Và lúc tôi ngồi trên bãi biển, kinh nghiệm ngày trước hầu như sống lại; tôi thấy "năng lượng tràn như thác đổ từ không gian xuống, trong đó bao nhiêu hạt được hình thành, bao nhiêu hạt bị hủy diệt trong một sức mạnh nhịp nhàng; tôi thấy nguyên tử của các nguyên tố và cả bản thân tôi tham gia vào trong một nhận thức vũ điệu nhịp nhàng năng lượng này của vũ trụ; tôi cảm nhận là vũ điệu đó và nghe được âm thanh của chúng, và ngay lúc đó tôi biết đó là vũ điệu của Shiva, một vị Thần nhảy múa được người Ấn Ðộ tôn thờ."

    Trong Cao Ðài luôn luôn xác tín rằng nguyên lý Thiên Ðịa Vạn Vật Nhất Thể được minh định Trời Người Ðồng Nhất Thể nên Ðức Chí Tôn dạy rằng: Thầy là các con, các con là Thầy. Hay là:

    Thật là diệu diệu huyền huyền,
    Trời người có một chẳng riêng khác nào.
    ...
    Con là đấng thiêng liêng tại thế,
    Con với Thầy đồng thể linh quang.
    Khóa chìa con đã sẵn sàng,
    Khi vào cửa tục khi sang thiên đình.
    ...
    Người với trời thể chất song song,
    Nếu mình bền chí gia công,
    Tu thân luyện mạng cũng mong thành Trời...

    Thưa quí vị.

    Với tôn chỉ và mục đích của Ðạo Cao Ðài và quan điểm dung hòa rộng rãi của Cao Ðài Giáo mà tôi vừa nêu lên những điểm tóm lược và cũng rất thiết thực rõ ràng nhất có thể kết họp cùng với trào lưu mới của thời đại văn minh của thế giới nhân loại ngày nay để cống hiến cho tất cả mọi người tận dụng khả năng của mình bằng con đường tu học để đạt đạo, đạt chứng viên minh giác ngộ tự tánh của mình được hoàn nguyên phản bản. Con đường ấy cũng không phải bằng đường sông, đường biển, trên xa lộ mênh mông, cũng không phải đi qua bên Tây Trúc thỉnh kinh như Ðường Tăng Tam Tạng và học trò phải lặn lội xuyên qua ngàn vạn dặm đường rừng núi khó khăn với trăm cay ngàn đắng trong suốt 14 năm dài mới đem được kinh về cho Trung Quốc, cũng không phải đêm ngày luôn luôn cầu nguyện tụng kinh cho thật đầy đủ, cúng tiền bạc bố thí cho nhiều vào nơi chùa thất để lo hối lộ cho Phật Trời chứng minh là việc hy sinh cho Ðạo. Cũng không phải đi lặn lội rao giảng giáo lý cho hay để giúp cho Ðạo Giáo của mình nhiều người tin theo càng nhiều người khắp trên thế gian nầy là có thể được siêu thoát luân hồi sanh tử và nhập ngay vào Niết Bàn hay Thiên Ðường nào đó trên tận không trung vô tận mịt mù sâu thẳm để tận hưởng sự tiêu diêu cực lạc như lâu nay các nhà tôn giáo thường hay lừa gạt phỉnh phờ gạt gẩm những kẻ non dạ kém cỏi tin theo một cách mù quáng. Cũng bởi lẽ vô minh đó mà ngày nay cái họa về bất ổn trật tự cho thế giới nhân loại bởi những kẻ lợi dụng xuyên tạc giáo điều tôn giáo, đầu độc con người gây ra tội ác lỗi lầm rất đáng kinh ngạc nhất.

    Vì thế, muốn thấu triệt được chân lý Ðạo thì phải thì đi vào con đường nội tâm để tìm cầu học hỏi... Vì có biết nhìn sâu vào nội tại tâm linh mới thấu triệt được lẽ thật, mới tìm ra con đường chân chính tự do hạnh phúc miên trường vĩnh cửu. Vì rằng: Phật tại tâm, Tâm tức là Phật. Nên Ðức Cao Ðài đã dạy từ lúc ban đầu rằng: Thầy là các con, các con là Thầy.

    Và, trong Hồi ký Tây Du, tác giả có nhắc lại rất rõ ràng: Tìm Phật tìm Trời từ nơi đáy lòng con người.

    Phật tại Linh Sơn vốn chẳng xa,
    Linh Sơn kỳ thực tại lòng Ta.
    Người người đều có Linh Sơn tháp,
    Tu tại Linh Sơn mới khéo là.

    Nguyên Hán Văn như sau:

    Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu,
    Linh Sơn chỉ tại nhử tâm đầu.
    Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp,
    Hão hướng Linh Sơn tháp tự tu (1).

    Thiền Tông Phật Giáo cũng tha thiết chủ trương: Trực chỉ Nhân Tâm, Kiến Tánh thành Phật.

    Cao Ðài Giáo cũng chủ trương rằng con người có sẵn Thiên Tính, Phật Tính, có Bản Tính thường hằng bất biến tự tại viên minh diệu giác, có đủ Thái Cực, Vô Cực như Trời. Cho nên, nếu con người có sẵn một thiện tính vô cùng linh hoạt nếu biết cải hóa nội tâm thì cũng có thể giác ngộ trở thành Trời hay Thần Thánh, Tiên Phật.

    Trong quí anh em chúng ta có mặt tại nơi đây trong ngày hôm nay tôi nhận thấy đa số quí liệt vị tuổi đời cũng đã về buổi xế chiều. Cũng đã đến lúc chúng ta nên gấp rút tự chọn cho mình một con đường thích họp nhất với chúng ta! Và như thế chỉ còn con đường hướng nội mà tìm cầu hai chữ Cao Ðài. Theo tôi nghĩ hai tiếng Cao Ðài không phải chỉ dành cho những người đã vào trong khuôn khổ tôn giáo Cao Ðài, phải nhập môn cầu đạo, ăn chay đi chầu lễ tại các Thánh Sở với đạo phục màu trắng mới là Cao Ðài. Vì hai chữ Cao Ðài hoặc Ðạo Cao Ðài không phải riêng cho bất cứ một ai mà tất cả chúng ta cũng đã có sẵn Cao Ðài trong tất cả quí vị và chúng tôi. Hai tiếng Cao Ðài chính nghĩa của nó là Lương Tâm, là Phật Tính, là Thiên Tính, là Nhân Tính, là Nê Hườn Cung trong mọi người chúng ta ai cũng có một Não Thất Ba nằm ngay tại đỉnh đầu của mình đó là Tòa ngự cao quí của Dấng Toàn Năng Thượng Ðế thường ngự tại nơi đó gọi là Cao Dài. Vì từ lâu nay trong mỗi chúng ta chưa tìm ra được Bản thể của mình nên phải chịu mãi trong sự luân hồi sanh tử khổ đau vô tận không ngã thoát ly.

    Vì vậy mà Ðức Cao Ðài, Ngài đã động lòng từ bi nên đến tại thế gian nầy lập thành Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ để dẫn dắt con cái của Người sớm tỉnh thức ăn năn tu học hầu có thể sớm hội hiệp cùng Ngài, và Ngài dạy rằng:

    Muôn kiếp các con chịu lạc đường,
    Thấy vầy Thầy luống động thương.
    Nên đoan thệ cùng hàng Tiên Phật,
    Lập Ðạo không thành chịu tội ương.

    Vì thì giờ không cho phép tôi tiếp tục trình bày thêm những phương thức tu học về Cao Ðài để giúp cho quí liệt vị thông cảm thêm về giáo lý Cao Ðài. Trước khi chấm dứt tôi xin thành thật cảm ơn tất cả quí vị đã lắng nghe và chúng tôi xin ghi nhận công đức của quí vị quan khách và chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ, các Ðệ Muội có mặt trong ngày hôm nay là một thiện chí.

    Trân trọng kính chào và rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp tốt của liệt quí vị hầu chúng tôi có thể thành lập một cơ sở Ðạo Cao Ðài tại nơi nầy và để giúp cho các Tín Hữu Cao Ðài chúng tôi tại đây và các vùng phụ cận có được những sự liên lạc cho nhau được dễ dàng và thuận tiện.


    Trọng kính.
    Chicago, ngày 21 tháng 09 năm 2003.
    Giáo Hữu NGỌC SÁCH THANH


  2. #2
    Ngày, tháng tham gia
    Aug 2007
    Bài Gởi
    3,084
    Thanks
    82
    Thanked 747 Times in 568 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định


    Tham Quan Tòa Thánh Tây Ninh











    Ông thầu xây dựng người Đài loan (cúng chùa 15K )





Qui Định Đăng Bài

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •