Kết quả 1 từ 2 trong 2

Đề Tài: Tôn Phu Nhân qui Thục => Tôn thọ Tường

  1. #1
    Ngày, tháng tham gia
    Jul 2008
    Bài Gởi
    663
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc Định Tôn Phu Nhân qui Thục => Tôn thọ Tường

    Bài Xướng - Tôn Thọ Tường

    Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,

    Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông.

    Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc;

    Về Hán trau tria mảnh má hồng.

    Son phấn thà cam dày gió bụi;

    Đá vàng chi để thẹn non sông.

    Ai về nhắn với Châu Công Cẩn;

    Thà mất lòng anh được bụng chồng.



    Chú thích:

    1. Tôn Phu Nhân:

    Con gái Tôn Kiên, em cùng cha khác mẹ với Tôn Sách, Tôn Quyền. Trong kinh kịch thường có gọi là Tôn Thượng Hương (孫尚香), “Thông tục tam quốc diễn nghĩa” gọi là Tôn nhân, trong “Tam Quốc Chí” thì gọi là Tôn Phu nhân.

    Tính cách mạnh mẽ, thường có thị nữ mang binh khí theo hầu, bản thân phu nhân cũng mang tật đao nên còn có tên gọi là Cung yêu cơ. Truyện kể trong đêm tân hôn, Lưu Bị vào động phòng thấy tì nữ ai nấy đều mang theo binh khí thì khiếp sợ vội bỏ ra ngoài.

    Năm 209, theo kế sách của Châu Du nhằm dụ Lưu Bị sang nước Ngô để gây sức ép với bên Thục, tên phu nhân bắc đầu xuất hiện trong truyện hôn nhân kế sách. Tuy nhiên, dưới sự phò trợ của Triệu Vân theo kế của Gia Cát Lượng, Lưu Bị đã cùng Tôn phu nhân thoát thân thành công về đến Kinh Châu. Tuy tuổi tác cách nhau gần 30 năm, nhưng quan hệ hai người hết sức tốt đẹp.

    Về sau, vào năm 212, quan hệ giữa Lưu Bị và anh của Phu nhân là Tôn Quyền xấu đi. Theo kế sách của Trương Siêu và Lỗ Túc, Châu Thiện tuỳ thân cũ của Tôn phu nhân, sang Thục báo tin mẫu thân của Tôn Phu nhân ốm nặng, nhắn nàng về đồng thời muốn nàng mang theo A Đẩu (tức Lưu Thiền). Giữa đường bị Triệu Vân và Trương Phi phát giác, chém Châu Thiện đoạt lại A Đẩu. Phần Tôn Phu Nhân thì để nàng một mình về Ngô. Về Ngô Tôn phu nhân mãi không tái hôn, đến năm 222 trong cuộc chiến Di Lăng nghe tin thất thiệt Lưu Bị tử trận, tuyệt vọng Tôn Phu Nhân nhảy xuống song Trường Giang tự vận.

    2. Tôn Thọ Tường:

    (1825-1877) là một danh sĩ thời nhà Nguyễn, từng ra làm quan cho nhà Nguyễn, sau lại cộng tác với người Pháp, bị các trí thức người Việt chỉ trích mạnh với lý do cộng tác với kẻ ngoại xâm.

    Tôn Thọ Tường là người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông vốn xuất thân trong một gia đình khoa hoạn, thân phụ là Tôn Thọ Đức đỗ Cử nhân, làm quan dưới triều Thiệu Trị, Tự Đức. Ngay từ thời trẻ, Tôn Thọ Tường học ở Huế, nổi tiếng văn hay chữ tốt. Năm 1840 thân phụ qua đời nên việc học dở dang, đến năm 30 tuổi vẫn chưa đỗ đạt gì. Năm 1855, ông được tập ấm làm quan, nhưng chỉ là một chức quan nhỏ. Bất mãn vì việc đó Tường bỏ về quê. Thêm vào đó, trong một kỳ thi, vì gian lận nên bị tội, vua Tự Đức xét đến tổ tiên và thân phụ từng làm quan lâu đời nên Tường mới được tha tội.

    Sau khi Pháp lấy Nam Kỳ (1862), ông ra giúp việc Chánh phủ Pháp. Ông từng được cử theo sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp (1863-1864). Sau khi về nước, ông được người Pháp thăng dần đến chức Đốc phủ sứ, chủ quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Tường cũng nhiều lần đi dụ hàng các nhà yêu nước Phan Tôn, Phan Liêm ở Bến Tre, nhưng đều bị chỉ trích mạnh mẽ. Về sau, do công việc dụ hàng không hiệu quả, năm 1871, Tường được người Pháp rút về dạy Hán văn ở trường Hậu bổ (Collège des Stagiaires) Nam Kỳ.

    Năm 1875, Tường làm việc dưới quyền của Tổng Lãnh sự Pháp De Kergaradec ở Bắc Kỳ. Năm 1877, trong một lần theo viên lãnh sự này đi quan sát miền thượng du Bắc kỳ, Tường bị mắc bệnh mất.

    Tôn Thọ Tường được đánh giá là một nhà thơ có thi tài được thể hiện qua một số bài thơ có hình tượng nghệ thuật như Đĩ già đi tu, Từ thứ qui Tào, Cây mai... Tuy nhiên, đương thời, Tường cũng bị các trí thức người Việt, đặc biệt là Phan Văn Trị, lên án, chỉ trích do làm việc cho người Pháp là kẻ xâm lược đất nước lúc bấy giờ.


    3. Phan Văn Trị

    (1830-1910) người thôn Hưng Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng An, Trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre). Đỗ cử nhân traong khoa thi 1849, năm ông vừa tròn 19 tuổi nhưng không ra làm quan, được nhiều người biết dưới tên gọi Cử Trị. Trong những năm 1856-1857, Phan Văn Trị đã cùng với Tôn Thọ Tường đã sáng lập nhóm Bạch Mai thị xã ở Gia Định. Đó là nhóm tụ hội thơ Phú của các vị khoa bảng: Tiến sĩ Phan Hiển Đạo, thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, cử nhân Huỳnh Mẫn Đạt, tú tài Nguyễn Đình Chiểu

    Năm 1859, khi Pháp chiếm Sài Gòn, Phan Văn Trị lánh nạn về làng Bình Canh, Tân An (nay thuộc xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Tại đây, ông đã mở trường dạy dọc và bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Cuối tháng 2/1861 coi như Sài Gòn thất thủ hoàn toàn. Đến tháng12/1861 thì Gò Công, Cần Giuộc, Tân An đã rơi vào tay Pháp. Trước cảnh đó, Cử Trị cùng các sĩ phu đã khởi xướng phong trào "tị địa" bất hợp tác mọi mặt với giặc, tập hợp lực lượng và cổ vũ phong trào yêu nước lúc đó.

    Tuy sự nghiệp văn chương của Cử Trị không để lại những tác phẩm lớn, nhưng thơ văn của ông đã đóng góp vào mặt trận tinh thần của nhân dân trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

    Bình thơ:

    Bài xướng của Tôn Thọ Tường

    Bài thơ là một lời giải bày mượn hình ảnh Tôn Phu Nhân để nói lên tâm sự của tác giả.

    Hai câu thơ đầu “Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng, Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông” ca ngợi cái danh tiếng của Tôn phu nhân. “Cật ngựa thanh gươm” là nét đặc trưng khó lẫn khi miêu tả về người con gái hiếu võ này. Cách dung từ rất đắc dụng “cất ngựa thanh gươm” “ngàn thu rạng tiết” làm người đọc dâng lên trong lòng cái khí thế hào hung của người xưa. “Vẹn chữ tòng” theo quan niệm tam tong của nho giáo, người phụ nữ ngày xưa phải “tại gia tong phụ”, “xuất giá tòng phu”, “phu tử tòng tử”. Trọn được một chữ tòng thì mới được “ngàn thu rạng tiết”. phải chăng ý tác giả không chỉ dừng ở tam tòng một cách thụ động, mà còn tiến đến chỗ “ngộ biến tòng quyền” để giải thích cho việc ra làm quan dưới thời pháp thuộc.

    Hai câu kế “Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc, Về hán trau chia mảnh má hồng” là một vế đối hoàn hảo, để nói lên mối tâm sự ngỗn ngang, mâu thuẩn trong lòng tác giả. Câu thứ ba “Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc” cái tâm sự lưu luyến “bịn rịn” của người dứt lòng ra đi, không vui sướng gì đâu khi phải về hán chỉ để “trau tria” mảnh má hồng. Tôn phu nhân ngày xưa về hán không phải vì yêu mà vì đại cuộc, vì kế giao hảo giữa Ngô với Thục. Hai câu 5,6 “Son phấn thà cam dày gió bụi; Đá vàng chi để thẹn non song.” Cũng là một vế đối để nhấn mạnh nỗi lòng của tôn phu nhân. “Son phấn”ngày xưa nay phải đành dày vò trong gió bụi đá vàng cho để thẹn non song. Hai câu cuối “Ai về nhắn với Châu Công Cẩn, thà mất lòng anh được bụng chồng” là nhắn với Chu Du, người bày ra kế sách hôn nhân nhưng thất bại bỡi là phận gái một khi theo chồng nàng chỉ biết đến tòng phu. Cái cảnh một thân đứng giữa hai dòng nước, phải chọn một thì chắc chắn không thể vừa lòng cả đôi bên.

    Mượn hình ảnh tôn phu nhân quy thục thể nói lên tâm sự của mình, những mong được người tri giao cảm thong. Bài thơ toát lên khí khái hào hung, với cách dung từ tuyệt khéo tỏ rõ văn tài của thi nhân. Duy chỉ có hai câu cuối, cách nói hơi lộ liễu tuyệt tình. Có lẽ vì thế mới có bài hoạ của cử trị.


    Bài Họa - Phan Văn Trị
    Cài trâm xóc áo vẹn câu tòng,
    Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông,

    Ngút tỏa trời Ngô un sắc trắng;

    Duyên về đất Thục đượm màu hồng.

    Hai vai tơ tóc bền trời đất;

    Một gánh cương thường nặng núi sông.

    Anh hỡi! Tôn Quyền! Anh có biết?

    Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.




    Cài trâm xóc áo vẹn câu tòng. Để đối với Cật ngựa thanh gươm, cử trị sửa lại thành cài trâm xóc áo, ý muốn ngõ là phận gái thì không thể cưỡi ngựa mang gươm, chỉ nên lo chuyện trang điểm phấn son.

    Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông. Chia tay với quê hương khi hoàng hôn tàn tạ, có phải là lúc nước nhà đang trong cơn nguy khó. Hai câu sau càng làm rõ ý này “ngút toả trời ngô un sắc trắng, duyên về đất Thục đượm màu hông” để miêu tả miền vui của người con gái giang đông theo duyên mới với “đượm màu hồng” bỏ lại sau lưng một trời Ngô buồn “un sắc trắng”.

    “Hai vai tơ tóc bền trời đất, một gánh cương thường nặng núi sông” một vế đối chỉnh để so sánh giữa người xưa và nay. Tôn phu nhân ngày xưa với hai vai tơ tóc thì danh tiếc còn lưu cùng trời đất. còn gánh cương thường ngày nay há có nhẹ hơn. Phải chăng ý Cử Trị muốn nói, người ta là phận gái thì phải vẹn chữ tòng, còn anh là nam nhi đại trượng phu phải ra sức với non song gánh vách việc nước. ý này càng rõ trong câu cuối. “Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng.”

    Lúc bấy giờ là cuối thời nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta. Pháp xâm lấn, triều đình bất lực, vận nước chong chênh, sĩ phu hũ nho chưa tìm ra đường lối tích cực cho hoàn cảnh lúc bấy giờ. Sự đúng sai của tiền nhân không thể một lời nói hết. ở đây chỉ muốn nói đến cái tài hoa của người xưa. Hai bài xướng hoạ này sau trở thành một trong những bài xướng hoạ danh tiếng trong nền văn học nước ta.

  2. #2
    Quo Vadis Guest

    Mặc Định

    Người xưa đâu tá?? Còn mấy ai nhớ được hai bài thơ đó và giai thoại này, bạn BaKhia?? Cám ơn bạn rất nhiêu.... Đọc kỹ để mà nhớ chuyên.. ngày xưa !!!!

Qui Định Đăng Bài

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •