Trang 1/5 12345 Sau CùngSau Cùng
Kết quả 1 từ 10 trong 44

Đề Tài: Tặng phần mềm bói dịch

  1. #1
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Mặc Định Tặng phần mềm bói dịch

    Sau khi các bạn dawload về các bạn seup xong trên mà hình sẽ hiện lên hình như sau:





    http://www.mediafire.com/?sharekey=d...db6fb9a8902bda

    Chương trình hiện ngay trên decscop bạn muốn xem ngày hiện tại bạn nháy ngay vào ô ngày đó cho ta quẻ bói, muốn xem chi tiết ấn vào ô XEM CHI TIẾT sẽ cho ta chi tiết nên tránh hay ko tránh, bên cạnh tay trái có các menu bạn muốn xem gì thì ấn vào đó



    Sau khi ấn vào ô chi tiết ta có hình sau:



    Các bạn thử xem rất có ịch, có vướng mắc ta cùng trao đổi
    Chúc các bạn thành công
    Nội dung được thay đổi bởi:470525; 04-11-2008 lúc 11:23 AM.
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  2. #2
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định

    Nếu càn giải thích 64 quẻ mình sẽ POS tiếp
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  3. #3
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định

    Xin tặng ý nghiõa của 64 quẻ dịch để các bạn tham khảo. Sau khi có quẻ dịch bạn tra ở đây

    http://www.mediafire.com/?sharekey=a...db6fb9a8902bda
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  4. #4
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định

    Các bạn đã xem ý nghĩa 64 quẻ chưa, xem có đúng với quẻ ở phần mềm không?
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  5. #5
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định

    Bói dich rất hay dùng cho những người am hiểu về kinh dịch và rất sâu sắc
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  6. #6
    Ngày, tháng tham gia
    Feb 2006
    Bài Gởi
    17
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    heart

    Trích Nguyên Văn Bài Viết Của 470525 View Post
    Các bạn đã xem ý nghĩa 64 quẻ chưa, xem có đúng với quẻ ở phần mềm không?
    Muốn xem lắm nhưng download Folder....thấy Empty thì làm sao..xem???

  7. #7
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định Phong thuỷ huyện gia viễn, ninh bình

    Bài này đăng bên Vanhoaphuongdong.com . dienbatn thấy hay nên giới thiệu cùng các bạn .
    Mapbe sưu tập được rất nhiều các bài viết, các giai thoại về phong thuỷ, từ kiểu đất đế vương đến kiểu đất phát văn, phát võ ...., từ những thầy phong thuỷ nổi tiếng như Tả Ao, Cao Biền cho đến những thầy địa lý vô danh. Mạn phép bác Dienbantn post nên cho mọi người cùng đọc .
    Tổng Đại Hữu hay Đại Hoàng huyện Gia Viễn, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình (nay thuộc các xã Gia Phương, Gia Thắng, Gia Tiến huyện Gia Viễn) là đất sinh ra đế vương Đinh Tiên Hoàng lại đốc sinh đức thánh Nguyễn Minh Không quốc sư triều Lý mà phương ngôn, tục ngữ Ninh Bình còn lưu truyền:
    "Đại Hữu sinh vương
    Điềm Dương sinh thánh"
    (Đại Hữu nay thuộc xã Gia Phương huyện Gia Viễn quê hương của Đinh Tiên Hoàng đế. Điềm Dương hay là Điềm Giang nay thuộc xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn quê hương của đức thánh Nguyễn Minh Không).
    Từ thời Trần trở về trước, đất tổng Đại Hữu thuộc huyện Uy Viễn. Thời Lê gộp hai huyện Lê Gia và Uy Viễn thành một huyện lấy tên là Gia Viễn. Tên huyện Gia Viễn là tên ghép chữ cuối của tên huyện Lê Gia với chữ cuối của tên huyện Uy Viễn mà thành và giữ mãi cho đến ngày nay.
    Trong tiến trình lịch sử tạo dựng đã có những thay đổi về tên của quê hương đức thánh Nguyễn Minh Không.
    Dưới thời Đinh, đất Điềm Dương gọi là Đàm Gia Loan mà Đinh Bộ Lĩnh khi lên ngôi Hoàng đế năm Mậu Thìn (968) đã chọn làm quốc đô, xong vì thấy ở đây bốn bề đều là đồng nước mênh mông lại chật hẹp, lầy lội lên mới vượt sông Hoàng Long chuyển sang xây dựng kinh đô Hoa Lư (nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình). Năm Thái Bình thứ 3 (970) Đàm Gia Loan được đổi gọi là Đàm Xá. Theo các cụ cao tuổi ở địa phương giải thích cho biết: Đàm nghĩa là đầm, Xá tức là nhà (Đàm Xá nghĩa hiểu là nhà trên đầm nước).
    Dưới triều Mạc Đăng Doanh (Mạc Thái Tông, niên hiệu Nguyên Hoá năm thứ nhất) phân Đàm Xá thành hai xã là Đàm Giang và Đàm Xá.
    Đến triều Lê Thế Tông niên hiệu Gia Thái năm thứ nhất, Quý Dậu 1573; (Mạc Sùng Khang năm thứ vì kỵ huý của Thế Tông là Duy Đàm nên lại đổi là Điềm Giang, Điềm Xá hai xã. Tên xã Điềm Giang, Điềm Xá được giữ mãi cho tới sau cách mạng tháng 8-1945.
    Năm 1950 các xã Điềm Giang, Điềm Xá, Đại Hoàng (xã Gia Phương ngày nay) hợp thành một xã lấy tên là xã Gia Thắng. Đến năm 1953 xã Gia Thắng lại chia thành 3 xã lấy tên là Gia Thắng, Gia Phương, Gia Tiến thuộc huyện Gia Viễn.
    Thế là trải qua gần 1000 năm biến cải tên gọi, thay đổi địa dư, đến nay đất tổng Đại Hữu được chia thành 3 xã mà xã Gia Phương là quê hương của đế vương Đinh Tiên Hoàng, xã Gia Thắng đốc sinh đức thánh Nguyễn Minh Không.
    Giữa một vùng đồng nước mênh mông là một giải đất chạy dọc theo hướng bắc- nam, địa đầu phía bắc là núi Bồ Đình (nay thuộc đất xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn), tận cùng phía nam là bến Hoàng Giang hay bến Đò Rồng, chiều dài hơn 6000m , chiều rộng chừng hơn 800m (chỗ rộng nhất ); phía tây là dòng Hoàng Long đã từng phân giới giữa huyện Lê Gia và huyện Uy Viễn; phía đông là con đường Tiến Yết mang huyền tích lịch sử khi Đinh Bộ lĩnh bị chú ruột là Đinh Thúc Dự đuổi đánh vì tội giết trâu khao lũ trẻ mục đồng; khi Bộ Lĩnh chạy đến đâu thì đường nổi lên đến đấy mà dân gian đặt tên cho đường là Tiến Yết (Đường Tiễn Vua). Hiện nay đường Tiến Yết vẫn còn là tuyến đê Tiến Yết với những hàng cây phi lao cao vút xanh tốt ở hai bên thân đê.
    Một khoảng đất không rộng nhưng lắm núi, nhiều sông bao bọc xung quanh: núi Kỳ Lân ở phía bắc gần kề núi Bồ Đình, lại có gò Bồ Đề tương truyền là nền cũ của vua Đinh Tiên Hoàng người có công thống nhất đất nước, lập ra quốc gia Đại Cồ Việt độc lập, tự chủ ở thế kỷ thứ 10. Hiện nay, ở đấy vẫn còn đền thờ vua Đinh khá nguy nga, đồ sộ đã được xếp hạng cấp nhà nước thuộc thôn Vân Bồng xã Gia Phương; Phía nam có núi Cắm Gươm hay Kiếm Sơn theo truyền lại khi chú Đinh Thúc Dự đuổi đánh Bộ Lĩnh được rồng vàng nổi lên đưa qua sông, thì chú cắm gươm xuống đất mà lạy cháu, chỗ ấy mọc lên một quả núi gọi là núi Cắm Gươm, dòng sông ấy gọi là Hoàng Long (Rồng Vàng). Qua dòng Hoàng Long về phía tây nam có dãy núi đá uốn lượn, có hai ngọn liền kề nhau tục gọi là núi Rồng, núi Rắn. Nhiều ngọn núi với nhiều hình tích mà dân gian đặt cho những tên gọi: Núi Con Lợn; Núi Con Rùa, Núi Con Phượng; Núi Cổ Giải... Ngọn Núi Đính (Bái Đính Sơn) đứng sừng sững cao vút đón gió đông nam thật đúng với bài thơ ngôn hoài của vị Đại Sư Không Lộ:
    Thạch Đắc Long Xà địa khả cư
    Dã tình chung nhật lạc vô dư
    Hữu Thời trục Thượng cô phong đính
    Trường khiếu nhất Thanh hám Thái hư
    Dịch thơ:
    Kiểu đất long xà chọn được nơi
    Tình quê lai láng chẳng hề vơi
    Có khí xông thẳng lên đầu núi
    Một tiếng kêu vang lạnh cả người
    (Thơ văn Lý - Trần T1; NXBKHXH; Hà Nội; 1997;tr 385)
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  8. #8
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định “TỨ BẤT TỬ” là những ai và có từ bao giờ?

    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện
    (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
    Trong tín ngưỡng thờ bách thần của người Việt, “hoặc có vị là tinh túy của núi sông, hoặc có vị là nhân vật linh thiêng, khí thế lừng lẫy về trước, anh linh còn mãi về sau”(Lời tựa sách Việt điện u linh), nhưng có 4 vị thần được dân gian tôn vinh là Tứ bất tử. Đó là bốn vị linh thiêng trường sinh bất tử trong thần điện Việt Nam. Mọi người vẫn cho rằng đó là Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Tháng Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Thực ra, trong lịch sử đã đã diễn ra không phải hoàn toàn như vậy, và trong chúng ta không phải ai cũng biết Tứ bất tử là những ai và có từ bao giờ.
    Việc phụng thờ Tứ Bất tử là một tín ngưỡng thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ và là một bộ phận không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước. Và chính người Trung Quốc, từ bao đời nay cũng đã biết đến và ghi nhận tín ngưỡng Tứ Bất tử của Việt Nam.
    “Người đời nhà Thanh (Trung Quốc) nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Chử Đồng tử chống gậy đội nón lên trời, Từ Đạo Hạnh đập đầu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy”(Lời Nguyễn Tông Quai, thế kỷ XVIII)

    “Tứ bất tử của nước ta, người đời nhà Minh (Trung Quốc) cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. (Vì) bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép”(Lời Kiều Oánh Mậu, 1910).
    Những ghi chép trong thư tịch cổ
    Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử mà chúng tôi được biết là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập, (VHv.1772/3 q.6) do Nhà in Phúc Khê, in năm Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức.
    Bản Dư địa chí mà chúng ta hiện có là một công trình nghiên cứu tập thể. Ngoài lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và lời thông luận của Lý Tử Tấn, Dư địa chí còn có những phần do người các thời sau (cụ thể là người các thế kỷ 16, 17, 18) đã thêm vào và sửa chữa nhiều lần. Trong số họ, có Thư Hiên Nguyễn Tông Quai (1693-1767).
    Thư Hiên Nguyễn Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí (VHv.1772/3 tờ 13a) của Nguyễn Trãi.
    Lời chú ấy như sau: “... Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy”(Nguyễn Thư Hiên viết: ... Thanh nhân xưng Tản Viên Đại Vương chi tự hải vãng sơn; Phù Đổng Thiên Vương chi kỵ mã đằng không; Chử gia Đồng tử chi trượng lạp thăng thiên; Ninh sơn (kim Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh chi ấn thạch đầu thai. Vị An Nam Tứ bất tử vân).
    Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (1854-1911) người làng Đường Lâm là nhà học giả nổi tiếng của cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục (AB.289, tờ 4a), in năm Canh Tuất 1910 có viết:
    “Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. (Vì) bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào. (Án: Ngã Tứ bất tử chi danh, Minh nhân dĩ Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đương chi nhiên; thử thời Tiên chúa vị giáng, cố vị cập thế nhân sở truyền, văn hiến khả trung. Kim tục chi).
    Trên đây là những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn nhiều. Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua những tài liệu đó:
    Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một thời, có viết: “... Bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương”.
    Hà Kỉnh (1922-1995) trong cuốn Truyền thuyết Sơn Tinh viết: “Ở Việt Nam ta có bốn vị thần bất tử là: Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh, Tản Viên Sơn Thần”.
    Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh, trong chuyên khảo Tứ bất tử chỉ thấy trình bày về bốn vị thánh bất tử gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
    Nhu vậy các vị Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ và Thánh Gióng luôn luôn cố định và nhất quán trong các tài liệu, các thời đại. Khi Liễu Hạnh chưa giáng sinh thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không được xếp vào hàng Tứ bất tử. Thư tịch cổ cũng cho biết rằng, việc người Việt thờ phụng Tứ Bất Tử được người Trung Hoa biết đến và ghi nhận. Điều đó chứng tỏ việc phụng thờ Tứ Bất tử là một nét tâm linh rất độc đáo và riêng khác của người Việt.
    Lý giải về Tứ bất tử
    Trước hết, nói về con số bốn (tứ). Trong tư duy của người Việt, con số này mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) là một hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. Ví dụ: Tứ trấn, An Nam tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hương v.v..
    Và việc chọn lấy 4, trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại.
    Từ bất tử cũng là một tập hợp như vậy. Cũng chính vì thế mà có đến 6 vị thánh được coi là bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt. đó là các vị: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Thánh Gióng, Liễu Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không.
    Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh:
    (Còn nữa)
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  9. #9
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định “TỨ BẤT TỬ” là những ai và có từ bao giờ?

    (Tiếp)

    Đền Và thờ Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh
    Tên gọi của vị Thần núi Tản, vị thần tối cổ trong tâm linh dân tộc Việt. Tản Viên Sơn tức là núi Ba Vì, “núi tổ của nước ta” (Nguyễn Trãi - Dư địa chí). Núi có ba ngọn cao chót vót. Ba anh em Thánh Tản (còn gọi là Tam vị Đại Vương Quốc chúa Thượng đẳng thần) chia nhau cai quản, mỗi người một ngọn núi.
    Xuất phát từ nhận định cốt lõi tín ngưỡng Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là TÍN NGƯỠNG THẦN NÚI (Sơn Tinh, Sơn thần) nằm trong hệ thống tín ngưỡng các hiện tượng tự nhiên, chúng tôi khẳng định rằng, nói Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là nói tới cả ba anh em thần núi. Như vậy, đương nhiên cả ba vị thần đó đều thuộc Tứ bất tử.
    Cũng từ cốt lõi của tín ngưỡng thần núi của người Việt, cho nên có hiện tượng công chúa Ngọc Hoa, vợ của Thánh Tản (người anh cả) không được đề cao ngang hàng với Tam vị Tản Viên Sơn Thánh, dù rằng ở một só làng nơi giáp ranh giữa Sơn Tây, Ba Vì, Phú Thọ vẫn có những lễ hội đề cao Ngọc Hoa.
    Văn tế, sự sắp xếp các ngai thờ, nghi lễ, tự khí... mà chúng tôi khảo sát tại những ngôi đền thờ Thánh Tản ở vùng xung quanh núi Ba Vì càng góp phần làm sáng tỏ cho những nhận định trên đây.
    Chử Đạo Tổ: Nếu như ở huyền thoại Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh, người ta có thể tìm thấy những lớp ý nghĩa cổ xưa nhất của tín ngưỡng chất phác, nguyên thủy bằng cách bóc tách những lớp trầm tích tiềm ẩn trong văn bản thần tích thì với huyền thoại Chử Đồng Tử, công việc trở nên rất khó khăn. Huyền thoại Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ) là câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín ngưỡng vốn du nhập từ bên ngoài vào nước ta từ rất sớm. Cốt lõi huyền thoại cũng như tín ngưỡng Chử Đạo Tổ là tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Chử Đồng Tử chính là người đi tiên phong trong cuộc thụ phép thần tiên để tế độ và truyền dạy cho người khác. Dân gian tôn vinh Chử Đồng Tử là Chử Đạo Tổ là vì thế.
    Khảo sát hệ thống thờ tự ở đền chính thờ Chử Đồng Tử ở Đa Hòa, chúng tôi thấy, từ rất xa xưa, ở đó đã có ba pho tượng đồng và ba pho tượng đất mà cứ vị ngồi ở giữa là Chử Đạo Tổ, hai vị ở hai bên là Tiên Dung và Nội Trạch Tây Cung. Ở đình Tự Nhiên (huyện Thường Tín, Hà Tây), đối diện với Đa Hòa qua sông Hồng, khi mở hội cũng rước ba cỗ long kiệu ba vị kể trên.
    Mặc dù vậy, nếu xuất phát từ cốt lõi tín ngưỡng Chử Đạo Tổ thì trong số ba vị này, chỉ có Chử Đồng Tử, là thuộc về Tứ bất tử, của tâm thức dân gian Việt Nam.
    Thánh Gióng là vị “anh hùng độc lập” trong Tứ bất tử.



    Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Liễu Hạnh và quá trình hội nhập vào Tứ bất tử:



    Tượng tổ Từ Đạo Hạnh


    Tượng Liễu Hạnh


    Trước kia, khi Liễu Hạnh chưa xuất hiện (giáng thế) thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không là một trong Tứ bất tử có lẽ là từ những “tiêu chí” sau đây:
    - Cả hai vị đều “giáng sinh” trong một triều đại sớm của lịch sử Việt Nam.
    - Từ hai vị này đều làm nảy nở những câu chuyện đậm màu sắc Đạo giáo - một tín ngưỡng sớm đến với Việt Nam và có nhiều khả năng hội nhập với tín ngưỡng bản địa.
    - Hai vị này đều hóa thân sau khi mất, và đầu thai thành nhiều kiếp.
    Khi Liễu Hạnh “giáng sinh” vào khoảng thế kỷ XVI cũng chính là lúc ý thức hệ Nho giáo ở nước ta đang đi vào con đường suy thoái. Thực trạng xã hội loạn lạc, chiến tranh giết tróc, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ, khao khát cháy bỏng về một cõi tâm linh an lạc, siêu thoát. Phật giáo và Đạo giáo có cơ phát triển trong dân gian. Về Phật giáo, quan niệm Tịnh Độ tông với lối sống từ bi hỷ xả, với phương thức thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người, với tính chất dung hòa và phổ cập đã trở nên thắng thế và phổ biến trong suốt các thế kỷ XVI và XVII. Còn Đạo giáo, với những bùa chú, phép thuật, với những lối hành đạo phức tạp bởi những biểu tượng đã nhiều lúc trở thành cứu cánh để người ta tìm về làm chỗ dựa và nuôi dưỡng niềm tin về sự giải thoát. Nội Đạo tràng ra đời vào lúc này và sớm trở nên thịnh hành, được vua Lê thừa nhận. Tín ngưỡng tam phủ, mà trung tâm là thờ Mẫu hình thành và phát triển khá nhanh.
    Liễu Hạnh “giáng thế” đáp ứng nhu cầu thỏa mãn tâm linh của mọi giai tầng trong xã hội, phù hợp với tâm thức dân gian Việt Nam. Nếu so với Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không thì sự phụng thờ Liễu Hạnh bắt nguồn sâu xa từ trong tín ngưỡng thuần Việt của tâm thức dân gian, rồi lại xâm thực và hòa đồng vào tín ngưỡng Tứ phủ, nên tín ngưỡng này mang nhiều hơi hướng thời đại, cập nhật và phù hợp với thực tại. Ra đời trong thời kỳ đó, và với vai trò như vậy, việc tín ngưỡng Liễu Hạnh trở thành trung tâm của tín ngưỡng Tứ phủ và hội nhập với Tứ bất tử, trở thành biểu tượng của sự trường tồn là một điều dễ hiểu.
    Từ đó đến nay, tín ngưỡng Tam phủ rồi Tứ phủ luôn luôn là một trong những trung tâm tín ngưỡng của tâm thức dân gian. Ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh mang tính bao trùm, có phạm vi rộng lớn hơn so với ảnh hưởng của Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không là điều đã khẳng định trong dân gian.


    Đền thờ Nguyễn Minh Không tại Ninh Bình

    Tóm lại, trong tâm thức dân gian Việt Nam từng có Tứ bất tử. Các vị từng được coi là có chân trong Tứ bất tử gồm:
    - Tản Viên Sơn thánh (3 anh em)
    - Chử Đạo Tổ
    - Thánh Gióng
    - Thánh Láng Từ Đạo Hạnh
    - Nguyễn Minh Không
    - Thánh Mẫu Liễu Hạnh
    Qua thời gian, cùng với sự xuất hiện những yếu tố mới, mang tính thời đại về tư tưởng, triết lý, quan niệm thì niềm tin, tín ngưỡng, quan niệm về Tứ bất tử có sự thay đổi, dẫn đến việc Thánh Mẫu Liễu Hạnh thay thế Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đứng vào hàng Tứ bất tử như là một tất yếu.
    Tuy nhiên, những cắt nghĩa trên đây chỉ là những nét phổ quát nhất, trên mặt bằng tín ngưỡng của dân gian trong phạm vi rộng lớn, mang đặc điểm chung nhất. Ở một số nơi, một số vùng, quan niệm tín ngưỡng vẫn có những nét riêng, và tất nhiên, không phổ biến và chỉ có ảnh hưởng ở phạm vi nhỏ, hẹp.
    Việc phụng thờ Tứ Bất tử là một tín ngưỡng thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ và là một bộ phận không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước. Và chính người Trung Quốc, từ bao đời nay cũng đã biết đến và ghi nhận tín ngưỡng Tứ Bất tử của Việt Nam.
    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện - (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
    dienbatn giới thiệu .
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

  10. #10
    Ngày, tháng tham gia
    Oct 2008
    Bài Gởi
    5,191
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts
    Người Mở Đề Tài

    Mặc Định Dưới đây là sáu mươi tư quẻ của Kinh Dịch.

    Các quẻ từ số 01 đến số 30 được gọi là Thượng kinh, bắt đầu với hai quẻ Càn (trời), Khôn (đất) nên phần này đôi khi gọi là "đạo của Trời Đất".
    Các quẻ từ số 31 đến số 64 được gọi là Hạ kinh, bắt đầu với hai quẻ Hàm (tình yêu), Hằng (vợ chồng) nên phần này đôi khi gọi là "đạo của vợ chồng".
    1. |||||| Thuần Càn (乾 qián)
    2. :::::: Thuần Khôn (坤 kūn)
    3. |:::|: Thủy Lôi Truân (屯 chún)
    4. :|:::| Sơn Thủy Mông (蒙 méng)
    5. |||:|: Thủy Thiên Nhu (需 xū)
    6. :|:||| Thiên Thủy Tụng (訟 sòng)
    7. :|:::: Địa Thủy Sư (師 shī)
    8. ::::|: Thủy Địa Tỷ (比 bǐ)
    9. |||:|| Phong Thiên Tiểu Súc (小畜 xiǎo chù)
    10. ||:||| Thiên Trạch Lý (履 lǚ)
    11. |||::: Địa Thiên Thái (泰 tài)
    12. :::||| Thiên Địa Bĩ (否 pǐ)
    13. |:|||| Thiên Hỏa Đồng Nhân (同人 tóng rén)
    14. ||||:| Hỏa Thiên Đại Hữu (大有 dà yǒu)
    15. ::|::: Địa Sơn Khiêm (謙 qiān)
    16. :::|:: Lôi Địa Dự (豫 yù)
    17. |::||: Trạch Lôi Tùy (隨 suí)
    18. :||::| Sơn Phong Cổ (蠱 gǔ)
    19. ||:::: Địa Trạch Lâm (臨 lín)
    20. ::::|| Phong Địa Quan (觀 guān)
    21. |::|:| Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑 shì kè)
    22. |:|::| Sơn Hỏa Bí (賁 bì)
    23. :::::| Sơn Địa Bác (剝 bō)
    24. |::::: Địa Lôi Phục (復 fù)
    25. |::||| Thiên Lôi Vô Vọng (無妄 wú wàng)
    26. |||::| Sơn Thiên Đại Súc (大畜 dà chù)
    27. |::::| Sơn Lôi Di (頤 yí)
    28. :||||: Trạch Phong Đại Quá (大過 dà guò)
    29. :|::|: Thuần Khảm (坎 kǎn)
    30. |:||:| Thuần Ly (離 lí)
    31. ::|||: Trạch Sơn Hàm (咸 xián)
    32. :|||:: Lôi Phong Hằng (恆 héng)
    33. ::|||| Thiên Sơn Độn (遯 dùn)
    34. ||||:: Lôi Thiên Đại Tráng (大壯 dà zhuàng)
    35. :::|:| Hỏa Địa Tấn (晉 jìn)
    36. |:|::: Địa Hỏa Minh Di (明夷 míng yí)
    37. |:|:|| Phong Hỏa Gia Nhân (家人 jiā rén)
    38. ||:|:| Hỏa Trạch Khuê (睽 kuí)
    39. ::|:|: Thủy Sơn Kiển (蹇 jiǎn)
    40. :|:|:: Lôi Thủy Giải (解 xiè)
    41. ||:::| Sơn Trạch Tổn (損 sǔn)
    42. |:::|| Phong Lôi Ích (益 yì)
    43. |||||: Trạch Thiên Quải (夬 guài)
    44. :||||| Thiên Phong Cấu (姤 gòu)
    45. :::||: Trạch Địa Tụy (萃 cuì)
    46. :||::: Địa Phong Thăng (升 shēng)
    47. :|:||: Trạch Thủy Khốn (困 kùn)
    48. :||:|: Thủy Phong Tỉnh (井 jǐng)
    49. |:|||: Trạch Hỏa Cách (革 gé)
    50. :|||:| Hỏa Phong Đỉnh (鼎 dǐng)
    51. |::|:: Thuần Chấn (震 zhèn)
    52. ::|::| Thuần Cấn (艮 gèn)
    53. ::|:|| Phong Sơn Tiệm (漸 jiàn)
    54. ||:|:: Lôi Trạch Quy Muội (歸妹 guī mèi)
    55. |:||:: Lôi Hỏa Phong (豐 fēng)
    56. ::||:| Hỏa Sơn Lữ (旅 lǚ)
    57. :||:|| Thuần Tốn (巽 xùn)
    58. ||:||: Thuần Đoài (兌 duì)
    59. :|::|| Phong Thủy Hoán (渙 huàn)
    60. ||::|: Thủy Trạch Tiết (節 jié)
    61. ||::|| Phong Trạch Trung Phu (中孚 zhōng fú)
    62. ::||:: Lôi Sơn Tiểu Quá (小過 xiǎo guò)
    63. |:|:|: Thủy Hỏa Ký Tế (既濟 jì jì)
    64. :|:|:| Hỏa Thủy Vị Tế (未濟 wèi jì)
    .......Thiện căn ở tại lòng ta......
    Chữ tâm kia mới băng ba chữ tài

Trang 1/5 12345 Sau CùngSau Cùng

Qui Định Đăng Bài

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •