Người đàn bà đứng bên miếu cũ


Mọi người, chuyện này là mẹ em kể lại nhiều lần. Bản thân em chưa từng gặp chuyện gì kiểu vậy nên cũng không dám khẳng định là thật hay chỉ là chuyện người xưa kể lại. Nhưng chuyện xảy ra rất gần với gia đình em, người chứng kiến lúc đó cũng không chỉ có một người. Mẹ em khi ấy mới khoảng 15–16 tuổi. Mẹ có mấy anh chị em, trong đó thân nhất với hai người em gái vì tuổi gần nhau, đi đâu cũng có nhau. Cho dễ kể, em xin gọi hai dì là dì Mai và dì Yến. Dì Mai tính hiền, ít nói, còn dì Yến thì nghịch ngợm, hoạt bát hơn.
Hồi đó ở quê còn nghèo, sáng nào ba chị em cũng phải làm xong việc nhà, phụ việc ngoài ruộng rồi mới đi bộ mấy cây số đến trường. Đường ngày ấy toàn đường đất, hai bên lúc là ruộng, lúc là vườn rau, có đoạn lại chạy xuyên qua một khu cây cối um tùm. Trong đoạn rừng ấy có một cây cổ thụ rất lớn, dưới gốc đặt một cái miếu gỗ cũ kỹ. Mẹ kể ngày nào đi ngang ba chị em cũng chắp tay vái một cái rồi mới đi tiếp. Từ nhà đến trường mất một, hai tiếng đi bộ, chiều tan học về thì thường trời đã gần tối. Mọi thứ cứ bình thường như vậy cho đến một hôm.
Chiều hôm ấy ba chị em tan học rồi đi về như mọi ngày. Dì Mai lúc đó hơi mệt, người có vẻ không khỏe nhưng vẫn cố đi cùng. Khi gần về đến nhà thì trời đã nhá nhem. Đến đoạn cây cổ thụ có cái miếu cũ, mẹ em nhìn thấy bên cạnh miếu có một người phụ nữ đang đứng. Bà ta tầm trung niên, tóc dài chấm vai, mặc áo đen, phía dưới quấn một chiếc váy dài kiểu phụ nữ quê ngày trước. Ban đầu mẹ cũng không nghĩ gì, chỉ nắm tay hai em rồi bước nhanh qua. Nhưng đúng lúc đi ngang, mẹ vô thức liếc sang thì thấy người phụ nữ đó đang nhìn thẳng vào ba chị em. Bà ta mỉm cười. Mẹ nói đến tận bây giờ vẫn nhớ đôi mắt của bà ấy, vì cái nhìn rất lạ, lạnh ngắt, chẳng giống ánh mắt của người bình thường. Dù vậy tối hôm đó cũng không có chuyện gì xảy ra.
Sáng hôm sau, dì Mai sốt cao nên không đi học được. Mẹ chỉ đi cùng dì Yến. Ban đầu cả nhà nghĩ chắc cảm cúm bình thường, nghỉ vài hôm sẽ khỏi. Nhưng hai ba ngày trôi qua, cơn sốt không hạ. Điều kỳ lạ nhất lại xảy ra vào ban đêm. Dì Mai cứ đang ngủ là giật mình bật dậy rồi hét thất thanh, nói có người vào nhà muốn làm hại mình. Người lớn hỏi người đó là ai thì dì chỉ khóc, nói có người đang đứng gần giường. Cả nhà lúc ấy đều nghĩ trẻ con sốt cao nên mê sảng. Ông ngoại còn mời thầy thuốc tới khám, người ta nói chỉ là cảm cúm nặng, cho thuốc rồi bảo nghỉ thêm vài ngày. Nhưng càng uống thuốc, dì Mai càng yếu. Ban ngày mặt mũi xanh xao, người chẳng còn sức. Ban đêm thì gần như không dám ngủ vì cứ nhắm mắt lại là lại thấy có người tìm tới.
Đến ngày thứ bảy, bác cả trong nhà bắt đầu thấy chuyện không ổn. Bác hỏi mẹ em xem mấy hôm trước ba chị em có nghịch ngợm ở đâu, động vào miếu hay lấy thứ gì lạ về không. Mẹ bảo hoàn toàn không có. Chiều hôm đó bác đi đâu một lúc rồi dẫn về một ông thầy thuốc già trong vùng. Ông này không phải thầy pháp kiểu cầm kiếm hay làm lễ gì đâu mọi người, mà giống một ông lang ngày xưa, vừa biết thuốc nam vừa có chút hiểu biết về những chuyện dân gian. Vừa bước vào, ông đi thẳng đến chỗ dì Mai nằm. Dì nhìn thấy ông thì khóc, nói: “Bác ơi cứu cháu với, có người cứ tới muốn hại cháu.” Ông chỉ bảo: “Không có gì đâu, chắc cháu sốt nên nằm mơ thôi.” Sau đó ông bắt mạch, xem người rồi cho một ít thuốc lá về sắc uống.
Nhưng khi bước ra ngoài nói chuyện riêng với ông bà ngoại và bác cả, ông lại bảo tình trạng của dì Mai có gì đó không giống bệnh thông thường. Ông cũng chưa dám chắc, có thể chỉ là sốt kéo dài, nhưng cũng có khả năng con bé đã “vướng” phải thứ gì đó ở bên ngoài. Ông dặn trước mắt cứ sắc thuốc cho uống, nếu vài hôm nữa không đỡ thì phải đưa lên huyện khám. Trước khi nói xong, ông còn nhấn mạnh một điều rất kỳ lạ: “Mấy hôm này tuyệt đối đừng cho người lạ vào thăm con bé. Người nhà quen biết rõ thì được, còn người không biết là ai thì đừng cho tới gần.”
Trớ trêu là ông vừa dặn chưa được bao lâu thì chiều hôm ấy có một nhóm bạn bè của ông bà ngoại ghé qua hỏi thăm. Có người mẹ em biết, cũng có vài người mẹ chưa từng gặp. Ông thầy thuốc nhìn sang ông ngoại như muốn nhắc lại lời vừa nói, nhưng ông ngoại bảo đều là người quen cả nên không sao. Mọi người lần lượt bước vào gian giữa, nơi dì Mai đang nằm trên chiếc giường gỗ.
Trong nhóm đó có một bà già đứng lại ngay ngoài cửa.
Bà ta không bước vào.
Chỉ đứng im ở đó nhìn chằm chằm về phía dì Mai.
Vừa nhìn thấy bà già ấy, dì Mai bỗng bật dậy rồi hét lên một tiếng kinh khủng, cả nhà giật bắn người. Ông thầy thuốc đang đứng gần đó lập tức quay lại. Vừa thấy bà già ngoài cửa, sắc mặt ông thay đổi hẳn. Ông lao tới, chỉ thẳng vào mặt bà ấy rồi quát lớn: “Mụ kia! Cười cái gì mà cười? Về ngay! Đừng để tao nhìn thấy mặt mày ở đây lần nữa. Còn đứng đó cười nữa thì mày cũng chẳng được yên đâu!”
Cả nhà lúc đó đứng chết trân, chẳng hiểu chuyện gì.
Bà già ngoài cửa không cãi lại.
Bà chỉ nhìn ông thầy thuốc, rồi nhìn vào trong giường nơi dì Mai đang nằm.
Sau đó bà ta nhếch miệng cười một cái.
Rồi chậm rãi quay lưng bước đi.
Đến lúc ấy mẹ em mới thấy cái dáng người ấy có gì đó rất quen. Mái tóc, bộ đồ tối màu, nhất là cái cách bà ta quay đầu lại nhìn… rất giống người phụ nữ ba chị em đã gặp đứng bên cái miếu cũ dưới gốc cây hôm tan học.
Ông bà ngoại nghe vậy cũng sinh nghi, liền hỏi lại ông thầy thuốc xem bà già lúc nãy là ai. Ông thầy thuốc hỏi ngược lại: “Nhà có quen bà ấy không?” Ông bà đều lắc đầu, bảo chưa từng gặp bao giờ. Lúc đó ông mới nói nhỏ rằng bà già ấy sống ở vùng này đã lâu, trước kia có tiếng là người hay chơi bùa phép, càng về sau càng trở nên kỳ quặc, ít giao du với ai. Ông cũng không hiểu vì sao hôm nay bà ta lại xuất hiện đúng lúc dì Mai đang bệnh. Trước khi về, ông dặn rất kỹ: nếu bà già đó còn quay lại thì phải đuổi ngay, tuyệt đối không cho bước vào nhà, càng không được để bà ta gặp dì Mai. Ông còn dặn tối đến nên đóng cửa sau sớm, đừng để quần áo hay đồ ăn sống ngoài sân, còn dưới gầm giường của dì Mai thì đặt một con dao nhỏ quay lưỡi ra ngoài, theo cách người quê ngày trước vẫn làm khi trong nhà có người sốt mê man lâu ngày.
Ông thầy thuốc về được một lúc thì trời cũng tối. Đêm ấy mẹ em đang nằm trong màn thì nghe tiếng sột soạt ở chiếc giường bên cạnh. Nhìn qua lớp màn mỏng, mẹ thấy dì Mai từ từ bước xuống giường rồi đi về phía bếp. Mẹ hỏi: “Mai, đi đâu đấy?” nhưng dì không trả lời. Nghĩ em khát nước, mẹ cũng chui ra đi theo. Vào đến bếp thì thấy dì Mai đang ngồi xổm quay lưng lại, hai vai hơi rung rung như đang ăn thứ gì đó. Mẹ bước vòng ra phía trước mới tái mặt. Trên tay dì là mấy miếng lòng gà còn sống mà bà ngoại để trong rổ, dì cứ thế đưa lên miệng ăn ngon lành. Điều làm mẹ sợ nhất là dì Mai vốn ghét nội tạng, trước đây chỉ cần ngửi thấy mùi lòng gà là đã bỏ đi. Mẹ đứng ngay trước mặt mà dì gần như chẳng để ý, chỉ chậm rãi ngước mắt lên liếc một cái rồi lại cúi xuống ăn tiếp. Ánh mắt lúc ấy lạnh và lạ đến mức mẹ không dám gọi thêm lần nào nữa.
Một lúc sau dì Mai tự đứng dậy rồi quay về giường. Sáng hôm sau bà ngoại sờ trán thấy cơn sốt đã hạ thì mừng, hỏi có muốn dậy đi lại một chút hay đi học không. Dì Mai vẫn nằm quay mặt vào tường, đáp trống không: “Tao muốn ngủ.” Cả nhà đều khựng lại vì từ trước tới giờ dì rất ngoan, chưa bao giờ nói với mẹ mình bằng giọng như vậy. Nhưng thấy con vừa ốm dậy nên bà ngoại chỉ càm ràm vài câu rồi thôi.
Mấy ngày tiếp theo, dì Mai càng lúc càng khác. Ban ngày chỉ nằm lì trong màn, không muốn gặp ai, cũng chẳng chịu phụ việc nhà. Tối đến thì hay mở mắt nhìn chằm chằm vào người nằm cạnh. Dì Yến còn kể có đêm tỉnh dậy giữa chừng, thấy dì Mai nằm nghiêng người nhìn mình từ lúc nào không biết, mắt mở thao láo nhưng hoàn toàn không chớp. Khi dì Yến gọi thì dì Mai chỉ mỉm cười rồi quay mặt vào trong. Mẹ em nghe vậy cũng bắt đầu thấy bất an, nhưng vẫn cố nghĩ chắc bệnh lâu ngày nên người mệt mỏi, tính tình thay đổi.
Rồi một đêm, khoảng hai ba giờ sáng, chó trong xóm bỗng tru lên từng hồi. Không phải một con mà hết con này đến con khác, từ đầu làng vọng dần về phía nhà. Mẹ em đang ngủ thì nghe tiếng chân dì Mai rời khỏi giường. Lần này dì đi thẳng ra cửa sau. Mẹ không dám theo, chỉ nằm im nghe. Một lúc sau, từ phía sau vườn vang lên một thứ âm thanh rất kỳ quái, nghe giống tiếng người ngân nga nhưng chẳng thành câu, lúc gần lúc xa. Mẹ không nhớ rõ nó là tiếng gì, chỉ kể rằng nghe lạnh cả sống lưng, kéo dài như tiếng ai gọi nhau ngoài đồng vào lúc nửa đêm. Cứ mỗi lần âm thanh ấy vang lên thì chó lại tru dữ hơn.
Không bao lâu sau có tiếng chân từ ngoài trở vào. Cộp… cộp… cộp… rất nặng, chẳng giống bước chân của một cô gái đang ốm. Mẹ hé màn nhìn thì thấy dì Mai đứng ngay giữa nhà. Dì quay đầu sang, nhìn về phía mẹ rồi cười. Nụ cười không lớn, chỉ hơi nhếch môi, nhưng đôi mắt thì hoàn toàn khác người bình thường. Đêm đó mẹ thức trắng, chỉ mong nghe được tiếng gà gáy sáng.
Chuyện lặp lại liên tiếp hai ba đêm khiến mấy người anh trong nhà cũng bắt đầu để ý. Ban ngày dì Mai càng ít nói, có ai hỏi thì trả lời cộc lốc, nhiều lúc còn tránh nhìn thẳng vào mặt mọi người. Bác Cả vốn là người gan lì, ít tin chuyện ma quỷ, nhưng lần này cũng thấy có điều không ổn. Bác nói với các em rằng tối nay cứ giả vờ ngủ rồi để ý xem Mai thường đi đâu.
Đúng hôm đó ông bà ngoại lại phải sang làng bên có việc, gần sáng mới về. Trước khi đi, bà còn dặn các con để ý dì Mai. Đêm xuống, mọi người tắt đèn như thường lệ. Ba người anh nằm ở gian ngoài nhưng không ngủ hẳn. Gần nửa đêm, bác Cả nghe tiếng cửa sau kêu khe khẽ. Hé mắt nhìn thì thấy dì Mai đang bước ra ngoài, chân trần, đầu hơi cúi xuống. Ba anh em lặng lẽ đi theo.
Ngoài sân tối đen. Trời hôm đó không trăng, gió lại rất nhẹ. Phía sau nhà có mấy bụi tre lớn, qua đó là vườn rau rồi tới cánh đồng. Dì Mai đi được một đoạn thì dừng lại gần bụi tre, đứng quay lưng về phía nhà. Bác Cả gọi nhỏ: “Mai!” Dì không trả lời. Gọi lần thứ hai, dì mới từ từ quay đầu lại, nhưng vừa nhìn thấy các anh thì cả người mềm nhũn rồi ngã xuống.
Ba người vội chạy tới. Dì Mai vẫn thở nhưng gọi mãi không tỉnh. Họ đỡ dì ngồi dựa vào bụi tre thì từ phía ngoài vườn bỗng vang lên tiếng sột soạt, sau đó là thứ tiếng ngân nga kỳ lạ mà mẹ em vẫn nghe mấy đêm trước. Bác Hai lấy đèn pin soi về phía đó.
Giữa vườn, cách chừng vài chục mét, có một người phụ nữ đang đứng.
Bà ta mặc áo tối màu, tóc xõa ngang vai.
Không ai nhìn rõ mặt, nhưng cả ba đều có cảm giác bà ta đang cười.
Bác Cả lập tức quát lớn: “Ai đấy? Đêm hôm đứng trong vườn nhà người ta làm gì?”
Người phụ nữ không trả lời.
Bác lại quát: “Đi về đi! Đừng có tới đây nữa!”
Lúc ấy từ phía nhà, mẹ em cũng đã tỉnh vì nghe tiếng động. Mẹ bước ra cửa sau, vừa nhìn thấy bóng người ngoài vườn thì nhận ra ngay dáng người rất giống bà già từng đứng ở cửa nhà hôm trước, cũng giống người phụ nữ ba chị em đã gặp bên cái miếu cũ dưới gốc cây.
Cả nhà còn đang đứng nhìn thì gió từ ngoài đồng bất ngờ nổi lên. Bụi tre phía sau nhà nghiêng rạp, lá va vào nhau xào xạc. Ánh đèn pin chao đi một cái. Chỉ đúng một khoảnh khắc thôi, khi ánh sáng quay trở lại chỗ cũ thì người phụ nữ đã biến mất.
Không ai nghe thấy tiếng chân chạy.
Vườn rau trống trơn.
Bác Cả với bác Hai cầm đèn đi ra kiểm tra. Đến chỗ bà ta vừa đứng, họ không thấy ai, chỉ thấy trên nền đất mềm có hai dấu chân trần in khá sâu. Điều kỳ lạ là xung quanh không có dấu chân đi tới, cũng chẳng có dấu chân đi khỏi. Hai dấu ấy chỉ nằm nguyên một chỗ, như thể người đàn bà đó từ đầu đã đứng sẵn ở giữa vườn.
Ba người không dám tìm thêm nữa, vội quay lại đỡ dì Mai vào nhà. Khi tỉnh lại, dì ôm bụng rên đau, người nhức mỏi như vừa đi rất xa. Nhưng giọng nói đã trở lại bình thường. Dì hoàn toàn không nhớ mình đã ra khỏi nhà, càng không biết vì sao lại nằm cạnh bụi tre.
Sáng hôm sau, ông bà ngoại vừa về nghe kể lại thì lập tức sai người đi mời ông thầy thuốc. Ông tới rất sớm. Vừa bước vào sân ông đã nhìn thấy mấy dấu chân còn in trên luống rau, sắc mặt lập tức thay đổi. Ông không nói nhiều, chỉ bảo người nhà đun một nồi nước lá gồm bưởi, sả, hương nhu và vài thứ cây ông mang theo, rồi lấy nước đó lau người cho dì Mai. Ông còn cho người dọn sạch phần lòng gà sống trong bếp, rắc một ít muối và tro bếp quanh cửa sau, riêng cái miếu dưới gốc cây trên đường đi học thì từ nay tuyệt đối không cho mấy chị em đứng lại lâu.
Hôm đó ông làm một lễ rất đơn giản, không trống kèn, không múa may. Chỉ có một mâm cơm nhỏ, chén nước, ít trầu cau và ba nén nhang đặt ngoài sân. Ông bảo nếu thật sự có người khuất mặt nào theo về thì hôm nay gia đình xin trả lại đường ai nấy đi, người sống ở phần người sống, người âm về phần người âm, đừng quấy trẻ con trong nhà nữa. Ông dặn cả nhà không được gọi tên bà già kia, cũng đừng tò mò tìm xem bà ta ở đâu.
Đêm đầu tiên sau hôm đó, dì Mai vẫn còn mê man nhưng không ra khỏi giường nữa. Chó trong xóm cũng không tru. Sang ngày thứ hai dì bắt đầu ăn cháo, nói chuyện bình thường hơn. Khoảng một tuần sau sức khỏe gần như hồi phục hẳn. Điều kỳ lạ là khi mẹ hỏi về người phụ nữ đứng bên miếu hôm ấy, dì Mai chỉ nhớ ba chị em từng đi ngang qua đó, nhưng hoàn toàn không nhớ đã nhìn thấy ai.
Sau chuyện ấy, ông ngoại đi hỏi những người lớn tuổi trong vùng mới biết cái miếu gỗ dưới gốc cây đã có từ rất lâu. Người ta bảo trước kia khu đó từng có một người đàn bà chết bất đắc kỳ tử, nhưng qua nhiều năm chẳng ai còn nhớ rõ tên tuổi. Còn bà già mà ông thầy thuốc mắng hôm đến thăm bệnh, sau hôm đó cũng không ai thấy bà xuất hiện gần nhà nữa. Có người nói bà vẫn sống ở một xóm cách đó khá xa, có người lại bảo bà đã bỏ đi từ lâu. Mỗi người nói một kiểu nên đến giờ cũng chẳng biết đâu là thật.
Chỉ có một việc mẹ em nhớ rất rõ. Sau khi dì Mai khỏi bệnh, ba chị em vẫn phải đi con đường cũ để tới trường. Nhưng từ đó mỗi lần đi ngang cây cổ thụ, mẹ không còn dám nhìn thẳng vào cái miếu nữa. Cả ba chỉ cúi đầu bước nhanh qua.
Có một buổi chiều mấy tháng sau, đúng lúc trời sắp tối, mẹ em vô tình liếc về phía gốc cây.
Bên cạnh cái miếu gỗ không có ai.
Nhưng trong khoảng tối phía sau thân cây, mẹ nói mình nghe rất rõ một tiếng cười khẽ.
Chỉ một tiếng thôi.
Mẹ nắm chặt tay hai em rồi kéo nhau chạy một mạch về nhà.
Từ đó trở đi, không ai trong ba chị em gặp lại người đàn bà ấy thêm lần nào nữa.
Lâm

