Thông Báo

Collapse
No announcement yet.

B ó n g D á n g Đ à L ạ t Trong Thơ Nhất Tuấn

Collapse
This topic is closed.
X
X
 
  • Chọn Lọc
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • B ó n g D á n g Đ à L ạ t Trong Thơ Nhất Tuấn


    B ó n g D á n g Đ à L ạ t Trong Thơ Nhất Tuấn







    Nhà thơ NHẤT TUẤN tên thật là PHẠM HẬU. Sinh trưởng tại Nam Định. Quê ngoại quê nội ở Ninh Bình. Di cư vào Nam năm 1954. Gia nhập trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, năm 1955, Khóa XII. Rồi từ 1966 từng làm Quản Đốc Đài Phát Thanh, Giám đốc Nha Nghiên Cứu Kế Hoạch Bộ Thông Tin, Giám Đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh và Tổng Giám Đốc VN Thông Tấn Xã v.v… Trên vai nhà thơ là hai hoa mai trắng: Trung Tá.

    Nhà thơ được biết đến nhiều qua những tập thơ “Truyện Chúng Mình” (xuất bản trong khoảng từ 1959-1964) và những tập truyện “Đời Lính” (xuất bản 1965). Trên 50 bài thơ trong “Truyện Chúng Mình” đã được phổ nhạc bởi nhiều nhạc sĩ trong khoảng từ 1959-2008.

    Từng sống ở Đà Lạt nên thành phố đầy sương mù và mưa bay này vẫn luôn mãi tiềm ẩn ở một góc nào đó trong trái tim nhà thơ. Có lẽ cũng vì thế mà trong những vần thơ “Truyện Chúng Mình” NHẤT TUẤN đã ghi lại một số những dòng hồi tưởng với hình ảnh Đà Lạt mà một phần đời của mình còn gửi lại nơi chốn ấy. Và có lẽ để tưởng vọng về Đà Lạt mà trong chuỗi ngày sống ly hương, khi mái tóc đổi màu, nhà thơ đã chọn một thành phố cũng đầy mưa rơi giữa miền đồi núi chập chùng với ngàn thông xanh hoài ngàn năm ở vùng trời tây bắc Hoa Kỳ để định cư, đó là Seattle (Washington State).

    Trong thơ NHẤT TUẤN, thoạt tiên tình yêu thấp thoáng trong bài “Truyện Chúng Mình”, chỉ gợi lên nỗi nhớ mong của người ở Đà Lạt vì bị xa cách với người ở Sài Gòn:

    “Còn nhớ những thư người trước gửi
    Sàigòn - Đàlạt mới năm nào
    Từng chiều thứ bảy anh mong đợi
    Màu chữ xanh, yêu đến ngọt ngào

    Hồn có nguyên trinh màu trắng cũ
    Môi hồng vẫn thắm thuở ban đầu
    Không dưng lòng rộn niềm ao-ước
    Nhưng biết ai còn nhớ đến nhau.”


    Trong đời lính, khi phải rời xa Đà Lạt, từ nơi tiền đồn biên giới nhà thơ gửi lòng nhung nhớ về thành phố này nhân mùa Giáng sinh khi viết bài “Niềm Tin”, cũng đầy mong nhớ:

    “Lại một Noël nữa
    Mấy mùa Giáng sinh rồi
    Anh ở đồn biên giới
    Thương về một khung trời.

    Chắc Đàlạt vui lắm
    Mimosa… nở vàng
    Anh đào khoe sắc thắm
    Hương ngào ngạt không gian

    Mấy mùa Giáng sinh trước
    Chỗ hẹn anh chờ hoài
    Lần này không về được
    Hồi hộp đợi tin ai.”

    Một ngôi giáo đường nhỏ bé của Đà Lạt cũng lưu lại kỷ niệm một mùa Giáng Sinh với hoa anh đào khoe sắc thắm trong lòng NHẤT TUẤN. Nhà thơ viết bài “Nhà Thờ Đường Cô Giang”:

    “Thêm xuân nữa lại về
    Giữa một trời tuyết lạnh
    Nhiều đêm dài xa quê
    Tìm hoài trong ảo ảnh

    Những kỷ niệm thần tiên
    Bây giờ anh vẫn nhớ
    Nhà thờ đường Cô Giang
    Chúa nhật… mình đến đó

    Đàlạt vào Giáng Sinh
    Anh Đào reo mở hội
    Tan lễ em và anh
    Đường hoa về chung lối

    Họ thấy… em hôn anh
    Vội làm dấu Thánh Giá
    Mấy sơ và… sư huynh…
    Muốn là thiên thần cả!!


    Em hỏi:
    -Họ có yêu ?
    Anh đáp:
    -Khi khấn hứa
    Họ xin yêu rất nhiều
    Yêu hết con cái Chúa

    Anh cố giữ niềm tin
    Của tuổi trẻ mơ mộng
    Nơi quê hương ngàn trùng
    Xin em đừng tuyệt vọng

    Vì sẽ có một ngày…
    Giáo đường xưa… lại đến
    Quỳ dưới trời tuyết bay
    Thiết tha anh cầu nguyện.”


    Sau khi tình yêu nơi giáo đường xuất hiện, trong hồi tưởng nhà thơ chỉ mong “thấy” được người yêu nơi bài “Cầu nguyện” (chứ không mong “lấy” như bản nhạc đã đổi lời) với hai câu cuối thật buồn bã:

    “Con quỳ lạy chúa trên trời
    Để cho con thấy được người con yêu
    Đời con đau khổ đã nhiều
    Kể từ thơ dại đủ điều đắng cay
    Số nghèo hai chục năm nay
    Xây bao nhiêu mộng trắng tay vẫn nghèo
    Mối tình đầu trót bọt bèo
    Vì người ta thích chạy theo bạc tiền
    Âm thầm trong mối tình điên
    Cầm bằng Chúa định nhân duyên bẽ bàng
    Bây giờ con đã gặp nàng
    Không giàu, không đẹp, không màng lợi danh.
    Chúng con hai mái đầu xanh
    Chấp tay khấn nguyện trung thành với nhau.
    Thề rằng sóng gió biển dâu,
    Đã yêu… trước cũng như sau… giữ lời

    Người ta lại bỏ con rồi,
    Con quỳ lạy Chúa trên trời thương con.”





    Giáng sinh thường là thời điểm kỳ diệu nhất trong suốt cả năm với tiếng chuông ngân nga trong đêm vắng, với ánh nến lung linh huyền ảo và thánh ca trầm bổng gợi lên những cảm xúc thanh thoát, êm đềm và thánh thiện. Bên giáo đường hoa mimosa Đà Lạt khoe sắc vàng tươi thắm, nhưng trong lòng nhà thơ lại chỉ nổi lên kỷ niệm buồn bã với bài “Mimosa Thôi Nở”:

    “Noël xưa anh nhớ
    Khi hãy còn yêu nhau
    Nhà thờ nơi cuối phố
    Thấp thoáng sau ngàn dâu
    Anh chờ em đi lễ
    Chung dâng lời nguyện cầu
    Mimosa bừng nở
    Đẹp như tình ban đầu
    Đàlạt mờ trăng lạnh
    Đường về ta bước mau.

    Rồi anh hỏi khẽ em
    Đã xin gì với Chúa
    Trong đêm lễ Noël
    Em lắc đầu chả nhớ
    Nhưng hồng lên đôi má
    Nắm tay anh đợi chờ
    Trông em sao xinh quá
    Và ngoan như nàng thơ

    Mới bốn mùa thu qua
    Mimosa vẫn nở
    Sao mối tình đôi ta
    Ai làm cho dang dở

    Đêm nay Noël đây
    Chuông nhà thờ khắc khoải
    Gió đồi lang thang bay
    Mưa buồn giăng ngõ tối

    Anh quỳ bên tượng Chúa
    Cúi đầu chắp hai tay
    Lạy Chúa con chờ đợi
    Người ngày xưa về đây
    Nhưng em không về nữa
    Đường khuya mưa bay bay
    Mimosa thôi nở
    Trong hồn anh đêm nay.”


    Trong bài thơ “Truyện Cây Hoa Mimosa” (1964), lại cũng vẫn thoáng vẻ giận hờn, trách móc:

    “Một đi vĩnh biệt cao nguyên
    Mimosa trả… cho miền núi non
    Làm gì có chuyện sắt son
    Thì thôi đừng dại mỏi mòn mắt trông”

    Đà Lạt là thành phố với núi đồi và rừng thông. Núi vươn cao cùng thông xanh reo suốt bốn mùa như cùng hát vang lên khúc tình ca gửi vào năm tháng mà nếu vắng bóng thời thành phố sẽ như một cơ thể mất linh hồn. Hình ảnh ngọn núi cao Lap Be Bắc (Lapbe Nord) và cảnh Đà Lạt về đêm đã được nhà thơ NHẤT TUẤN nhắc tới trong bài “Đêm Cuối Cùng Đàlạt”, cũng kể lại một chuyện tình dang dở:

    “Rồi kỷ niệm về dần trong trí nhớ
    Đêm cuối cùng hai đứa đi ciné
    Những con đường Đàlạt lúc vào khuya
    Hoa lả tả rơi vàng đôi mái tóc

    Gió buốt từ "Lap Be Nord" xa tắp
    Anh vội vàng cởi áo khoác cho em
    Tiếng thở dài chen tiếng bước đi êm
    Mình yên lặng dìu nhau cho đến sáng.

    Và anh nhớ em hát bài Hoài Cảm
    Giọng ngân buồn, môi gọi cố nhân ơi
    Đêm hôm qua trong tiệc cưới đông người
    Lời hát cũ làm anh xao xuyến mãi.

    Ôi ngày xưa sao giờ không trở lại?
    Để em là riêng của một mình anh
    Để anh nghe hoài giọng hát thanh thanh
    Nhưng câu chuyện chúng mình không kết cuộc

    Vì hai đứa… tại vì… ai biết được?!
    Nên giờ này anh phải sống xa em
    Rồi tình cờ nghe giọng hát quen quen
    Bài Hoài Cảm, đêm cuối cùng Đàlạt!”


    Trước từng cùng “người xưa dịu hiền” kề vai nhau tình tự ngồi bên hồ Than Thở. Nay sao lại đã xa nhau, chỉ còn lại lời thở than tiếc nhớ dĩ vãng kỷ niệm trong “Bài Hát Đồi Sim”:

    “Đàlạt đầy sương khói
    Một mình anh lặng yên
    Nghe hồn mình nức nở
    Nghe buồn len trong tim

    Nếu mình đừng gặp nhau
    Trên núi đồi Đàlạt
    Vì tình yêu ban đầu
    Đã tan theo sóng nhạc

    Người xưa… người xưa đâu?
    Để… lòng anh tan nát
    Đời bãi bể nương dâu
    Cũng buồn như tiếng hát.”

    Cũng vẫn hồ Than Thở Đà Lạt thuở nào là nơi đôi lứa vui chơi với hoa “bất tử” từng là sứ giả của tình yêu. Nhưng nay sao chỉ còn là một kỷ niệm buồn đến “tàn nhẫn” trong bài thơ “Cánh Immortel Cuối Cùng” (1964):

    “Hôm xưa đi chơi hồ Than Thở
    Em ngắt bên đường một đóa hoa
    Rồi chạy đến anh cười hớn hở
    Đây hoa bất tử như tình ta

    Hoa ấy màu vàng chen sắc máu
    (Màu vàng tâm sự kẻ yêu nhau
    Là âu yếm với tình đôn hậu)
    Êm đẹp bao nhiêu giấc mộng đầu

    Quả thực cũng như tên bất tử
    Bông hoa nho nhỏ của người thơ
    Anh đem về để trong phòng ngủ
    Tươi mãi không tàn, có lạ chưa

    Từ dạo sân nhà em đỏ pháo
    Em cùng người ấy sống yên bình
    Đêm đêm úp mặt vào tay bảo
    Nào có ra chi... truyện chúng mình

    Trái với tên hoa là bất tử
    Hoa dần héo rũ sắc tàn phai
    Cánh rơi tan nát như tâm sự
    Như tiếng lòng anh khẽ thở dài

    Rồi đến chiều nay cánh cuối cùng
    Trời dâng lệ xuống khóc rưng-rưng
    Hoa ơi đừng giống tình ta nhé
    Ta vẫn cầu mong được thủy-chung

    Anh quên màu đỏ trong hoa đó
    Màu đỏ là màu của biệt-ly
    Và của bao nhiêu sầu hận tủi
    Giờ đây còn biết nói năng chi

    Cánh hoa bất tử rơi lần chót
    Tàn nhẫn như người rũ áo đi.”





    Mưa Đà Lạt giăng mắc trên thành phố cũng khiến cho nhà thơ ngậm ngùi nhớ lại biết bao hình ảnh cũ chất chồng, đầy ngang trái và nát tan. Trong cảnh Xuân về với cái Tết tha hương, NHẤT TUẤN viết bài “Mưa trong kỷ niệm”:

    “Chiều mưa đó tưởng không còn gặp lại
    Lần cuối cùng hai đứa lặng nhìn nhau
    Có bao giờ em hiểu được anh đâu
    Tình ngang trái và những lời gian dối

    Trong tay nhau nhiều lần anh tự hỏi
    - Ái Khanh ơi ! Em còn nhớ chăng em
    Bình minh hồng... và những buổi chiều êm
    Truyện Chúng Mình... với bao nhiêu kỷ niệm

    Hoa không đợi mà tình cờ bướm đến
    Mình yêu như chưa từng có bao giờ
    Em về rồi anh ở lại bơ vơ
    Và bỗng thấy muốn giận hờn mãi mãi

    Chiều mưa đó tưởng không còn gặp lại
    Nào ngờ đâu trên thành phố Cao Nguyên
    Đang âm thầm đếm bước dưới trời đêm
    Anh bỗng thấy dáng người xưa thấp thoáng

    Mái tóc đó bồng bềnh che vầng trán
    Nét môi cười và cặp mắt nai tơ
    Anh tưởng mình như đang sống trong mơ
    Và thầm hỏi hay chỉ là hư ảnh

    Ai thoạt gặp đã vội vàng lẩn tránh
    Trong mưa bay anh thờ thẫn ra về
    Mimosa tràn ngập lối anh đi
    Hoa hay chính mình đang tan nát...?

    Tết tha hương... nhớ mùa xuân Đàlạt
    Lòng bâng khuâng nhớ người cũ năm nào
    Tình tưởng phai theo ngàn cánh anh đào
    Bỗng giây phút lại thắm hồng nỗi nhớ

    Tiếng mưa như giọng ai... hoài nức nở
    Lần cuối cùng... rồi mãi mãi...
    Và mãi mãi... chia xa...
    Cho hồn anh nổi bão táp phong ba
    Thương từng hạt mưa buồn trong kỷ niệm.”

    Một ngày nào đó khi hồi tưởng về thành phố cao nguyên với tình yêu đẹp đẽ tràn đầy mộng ước lúc mình còn là sinh viên võ bị, NHẤT TUẤN viết bài “Nhớ Về Đàlạt” (1964). Thời gian trôi qua. Cảnh vẫn còn đó. Người xưa đã cách xa. Để rồi lại cũng vẫn đầy hình ảnh của buồn bã, của dang dở chia ly vào giai đoạn cuối của khúc nhạc tình:

    “Nhớ tám năm về trước
    Khi còn là sinh viên
    Học trong trường Võ bị
    Nơi núi rừng cao nguyên

    Dạo ấy em mười tám
    Xinh đẹp hơn tiên nga
    Tóc mây bồng vương trán
    Môi cười tươi như hoa

    Còn nhớ không ngày xưa
    Đàlạt buồn trăng mờ
    Gió vàng trên nước biếc
    Chim chiều bay bơ vơ

    Chúng mình sát vai nhau
    Tay đan tay chậm bước
    Cùng đếm từng vì sao
    Rồi xây bao mộng-ước
    Rừng ái ân vẫn đó
    Hồ Than thở còn đây
    Thông im buồn đợi gió
    Mây đồi xa còn bay

    Cũng vẫn một khung trời
    Còn nguyên hình ảnh cũ
    Em bây giờ xa rồi
    Tìm đâu người viễn xứ

    Tình nào không dang dở
    Màu nào mà không phai
    Cho nên anh không nỡ
    Làm thơ để trách ai

    Riêng chiều nay nhớ lại
    Truyện chúng mình ngày xưa
    Nhìn khung trời Đàlạt
    Mà tưởng mình đang mơ.”

    Trong cuộc sống tại ngước ngoài, với tiêu đề “Truyện chúng mình hải ngoại” NHẤT TUẤN viết: “Thôi trang đời đã khép”:

    “Và những chiều Đà Lạt
    Một mình trên đồi thông
    Mưa nhạt nhoà trong mắt
    Gửi sầu... vào mênh mông”

    Bài “Ảo ảnh”:

    “Xin giữ mãi kỷ niệm buồn Đà Lạt
    Giữa đồi thông rừng cỏ non xanh ngắt
    Nhớ điên cuồng trong một phút bâng khuâng”

    Bài “Lại một xuân buồn” (1985):

    “Nhớ Bích Câu Đà lạt thoáng mưa bay
    Hồ Than Thở cùng lòng ai hòa nhịp
    Rừng Ái Ân với ngàn thông xanh biếc
    Thác Gougah, cây gọi gió than van
    Đồi 15 đâu đó cụm mai vàng
    Giáng Sinh tới Anh đào khoe sắc thắm
    Mimosa sương long lanh đọng nắng
    Chiều Lâm Viên, bản Thượng khói dâng cao
    Những kỷ niệm xưa thân ái biết bao…
    Ghi lại thuở bên nhau nơi Trường Mẹ!”

    Mới chỉ trích dẫn một số ít vần thơ trong “Truyện Chúng Mình” của NHẤT TUẤN người đọc đã thấy bóng dáng thành phố sương mù Đà Lạt chập chờn ẩn hiện. Bóng dáng Đà Lạt một trời thương nhớ quả thật rất thích hợp để được chọn làm bối cảnh cho những truyện tình.




    Tình yêu nam nữ đã có từ vạn kiếp và luôn là một đề tài bất diệt trong vườn hoa văn học nghệ thuật của bất cứ quốc gia nào. Riêng trong lãnh vực thi ca thì từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, tình yêu luôn gợi hứng cho các nhà thơ. Hình như tình yêu không có tuổi tác, chừng nào trái tim con người còn đập thì con người còn yêu. Hơn nữa một số văn sĩ, thi sĩ đã từng nói rằng: “Thơ trữ tình có thể coi như tổng hợp, như tuyệt đỉnh của thơ, mà chính thơ là tuyệt đỉnh của tiếng nói loài người!” Họ còn mạnh miệng nói thêm nữa: “Thi ca sẽ là tôn giáo cuối cùng trên mặt địa cầu này khi mà tất cả nhân loại không còn giữ lại được cho họ một niềm tin nào ở nơi tôn giáo mà chúng ta đang có”.

    Thật ra nhà thơ không phải là kẻ vì phạm tội mà bị “phát vãng” từ thiên cung xuống dưới trần như có người thường nói. Nhà thơ cũng chỉ là một con người bình thường và đối tượng của thơ, chất liệu tạo ra thơ chính là cuộc sống trên cõi nhân gian mà thôi. Cũng vẫn có yêu có ghét, có vui có buồn, có quên có nhớ, có xum họp và có chia ly… Có lẽ phải quan niệm rằng: “Thơ là một lối sống, một lối nhận thức, một lối dùng ngôn ngữ, âm điệu để diễn tả tâm tư tình cảm riêng. Cái nền của thơ là cảm xúc, một cảm xúc thành thật. Thơ không phải là một cách độc thoại mà phải là một cách truyền đạt kinh nghiệm cho tha nhân. Thơ cần có sự thông cảm và thưởng thức của người đọc.”

    Người yêu thơ có lẽ phải nhận ra rằng NHẤT TUẤN, với những vần thơ lai láng trữ tình trong “Truyện Chúng Mình” không phải chỉ là truyện riêng tư “thì thầm bên gối” giữa hai người nữa mà đã hóa thành “truyện chúng mình” của bao nhiêu là đôi tình nhân thanh niên nam nữ khác. Nhà thơ đã viết xuống hộ những trang nhật ký về tình yêu của những người trẻ tuổi. Khi thì đằm thắm thiết tha. Nhiều lúc lại dang dở não sầu, phải cần đến thời gian như là một loại linh dược để dần dần hàn gắn các vết thương lòng trong quá khứ. Có thể coi đây là tâm sự chung của một thế hệ thanh niên thời đó, đồng một lứa tuổi với tác giả.

    Nhưng có một điều quan trọng cần phải nói thêm là sau những tháng ngày quằn quại với “Truyện Chúng Mình”, NHẤT TUẤN đã vươn khỏi những hình ảnh buồn chán thương đau, những nhớ nhung rất thế nhân thường tình của thời trai trẻ đó. Nhà thơ đã chuyển hướng về một chân trời thi ca với tầm cao của những hình ảnh đẹp đẽ hơn như những lời tâm sự chân thành của nhà thơ NHẤT TUẤN mấy chục năm sau khi viết những “Truyện Chúng Mình”:

    “Ngày còn là cậu học trò Trung Học
    Trong tình yêu bé nhỏ, cá nhân
    Tôi đã từng than thở biết bao lần
    Và làm thơ
    Trách những ngườì mau phụ bạc...
    ...
    Giờ đây, theo đời sống quân đội lớn lên
    Sau những tháng năm tranh đấu
    Tôi bỗng thấy rằng
    Mình chỉ toàn là thương hờ nhớ hão
    Tôi bỗng thấy rằng
    Còn rất nhiều tâm sự khác để làm thơ...”


    Ngô Tằng Giao





Working...
X