Ngày 210
Tác giả :Natsume Sōseki
Người dịch : Lam Anh
Tác giả :Natsume Sōseki
Người dịch : Lam Anh
Núi lửa và bão tố
Ngày 210 (Nihyaku Toka) là một tiểu thuyết ngắn độc đáo của văn hào Natsume Soseki (1867 – 1916), ra mắt ở Nhật Bản vào năm 1906.
Tiểu thuyết thể nghiệm một lối kể chuyện qua hình thức đối đáp kéo dài giữa hai chàng thanh niên khác nhau về tính cách là Kei và Roku khi họ cố sức leo lên đỉnh Aso đang rền rĩ như muốn bùng nổ phun trào dung nham. Và họ phải đối mặt với ngày 210, theo âm lịch là ngày bão tố. Những trường đoạn đối đáp của họ không chỉ thể hiện không khí căng thẳng khốc liệt của thiên nhiên vào ngày núi lửa và bão tố hoành hành mà còn cho thấy những xung đột xã hội gay gắt âm u.
Hành trình leo núi đầy ám ảnh của họ liệu có thành không, tác giả để mở cho trí tưởng tượng của người đọc.
Tiểu thuyết còn là một phối hợp thú vị giữa thể nhật ký văn chương rất Nhật có truyền thống lâu đời và thể tự truyện pha hư cấu của phương Tây.
Tác phẩm dựa trên một hành trình thật sự của Soseki đến Kyushu năm 1899 cùng với người bạn thân là Yamakawa Shinjiro. Hai người gặp bão tố ngày 210 khi thực hiện cuộc leo lên đỉnh Aso.
Núi lửa phun trào, văn hóa cũ suy tàn, bão tố ập về… Và những người trẻ tuổi vẫn đi lên với những bước chân đầy trầm tư, khát vọng.
Nhật Chiêu
Chương 1
Kei vừa mới đi đâu về, hai tay vung vẩy.
“Cậu mới đi đâu à?”
“Mình vừa đi dạo phố.”
“Có gì để xem không?”
“Có một ngôi chùa.”
“Rồi sao nữa?”
“Trước cổng chùa có một cây ngân hạnh.”
“Rồi sao nữa?”
“Có một con đường lát đá từ chỗ cây ngân hạnh dẫn vào chánh điện. Khuôn viên chùa hẹp nhưng lại rất dài.”
“Cậu có vào trong tham quan không?”
“Mình bỏ ý định đó rồi.”
“Có gì khác nữa không?”
“Chẳng có gì đặc biệt. Nói chung thì làng nào mà chẳng có chùa, đúng không cậu?”
“Đúng thế. Ở đâu mà có người chết thì sẽ có chùa thôi.”
“Đúng là như thế thật”, Kei vừa nói vừa vò đầu. Đôi khi Kei hay tỏ vẻ cảm thán trước những điều kỳ lạ. Một lúc sau, anh ta thôi vò đầu, ngẩng lên bảo:
“Rồi mình cũng có đến trước chỗ lò rèn xem người ta thay móng ngựa, thấy công phu thật đấy.”
“Thảo nào, mình cứ nghĩ cậu chỉ ghé thăm có một ngôi chùa mà mất ngần ấy thời gian. Việc thay móng ngựa mà cũng trở thành cảnh tượng hiếm thấy thế kia à?”
“Dù không phải là hiếm thấy thì mình vẫn muốn xem. Này, cậu nghĩ người ta cần bao nhiêu dụng cụ cho việc ấy?”
“Cần bao nhiêu nhỉ?”
“Cậu thử đoán xem.”
“Đoán làm gì! Cậu nói luôn đi!”
“Những bảy thứ kia đấy!”
“Nhiều đến thế sao? Là những thứ gì nào?”
“Là những thứ gì à? Có đủ cả đấy. Đầu tiên là một cái đục để cắt những chiếc móng chân, rồi một cái búa để đóng vào cái đục. Rồi một con dao nhỏ để gọt móng. Rồi còn một thứ dụng cụ lạ lùng để khoét móng. Rồi lại còn...”
“Rồi lại còn cái gì nữa?”
“Rồi lại còn nhiều thứ dụng cụ trông rất buồn cười nữa. Nhưng điều làm cho mình ngạc nhiên nhất là con ngựa rất dễ bảo. Người ta cắt, gọt đủ thứ vậy mà nó vẫn thản nhiên!”
“Vì chỉ làm ở móng chân thôi mà. Như con người vẫn thản nhiên mà cắt móng tay móng chân thôi.”
“Con người thì đúng thế rồi. Nhưng đây là con ngựa mà, cậu!”
“Người hay ngựa thì móng chân cũng có khác nhau đâu! Cậu cũng rỗi hơi thật nhỉ!”
“Rỗi hơi thì mới đi xem chứ. Nhìn người ta đập một thanh sắt nung đỏ trong bóng tối lờ mờ cũng đẹp thật đấy. Những tia lửa bắn tung tóe khắp nơi.”
“Đúng là có xoẹt lửa thật. Ở giữa Tokyo thì chúng cũng bắn tung tóe thế thôi.”
“Ở giữa Tokyo thì cũng thế thật đấy, nhưng mà cảm giác của mình thì khác hẳn. Một lò rèn ở trên núi thế này âm thanh phát ra cũng khác. Kìa, cậu có nghe những âm thanh vọng đến đây không?”
Đúng là có tiếng đập vào thiếc nghe chan chát từ xa vẳng lại, trong không gian của một buổi chiều chớm thu nơi sơn thôn cô quạnh khiến lòng ta se sắt, trong ánh tà dương đang dần khuất phía chân trời.
“Cậu có nghe thấy chứ?”, Kei lại hỏi.
“Có”, Roku trả lời ngắn ngủn rồi lại chìm trong im lặng.
“Rồi đối phương đánh rơi thanh kiếm bằng tre, và bị chộp lấy cánh tay ngay lập tức.”
“Hừm... Bị chộp ngay lấy cánh tay à?”
“Bị chộp lấy cánh tay. Đã bị giữ chặt cánh tay mà còn đánh rơi thanh kiếm nữa, nên chẳng làm sao mà cựa quậy được nhỉ!”
“Hừm... Lại còn đánh rơi thanh kiếm nữa, đúng không?”
“Thanh kiếm thì, ơ kìa, anh ta đã đánh rơi từ lúc nãy mà!”
“Đã đánh rơi thanh kiếm mà còn bị nắm giữ cánh tay thì khốn đốn thật nhỉ!”
“Khốn đốn thật đấy! Cả thanh kiếm và cánh tay đều bị đối phương khống chế mất rồi.”
Câu chuyện của hai người ở phòng bên cạnh cứ quanh quẩn mãi với thanh kiếm và cánh tay. Ngồi đối diện nhau, Kei và Roku đưa mắt nhìn nhau cùng mỉm cười.
Tiếng rèn sắt loảng xoảng vang động ngôi làng yên tĩnh. Âm thanh rin rít nghe có vẻ gì đó thật nao lòng.
“Vẫn đang rèn móng ngựa đấy. Có vẻ hơi lạnh, phải không cậu?” Kei co người lại dưới chiếc áoyukatamàu trắng. Roku cũng xốc lại cổ áokimonomỏng, cũng màu trắng trơn, khép hai đầu gối vào ngay ngắn. Rồi Kei bảo:
“Ở giữa khu phố mà tớ sống hồi nhỏ, có một quán đậu phụ.”
“Một quán đậu phụ ư?”
“Một quán đậu phụ. Từ góc đường chỗ quán ấy đi lên dốc chừng trăm mét thì có một ngôi chùa tên là Kankeiji.”
“Một ngôi chùa tên là Kankeiji á?”
“Ừ. Bây giờ chắc chùa ấy vẫn còn. Nhìn từ cổng chùa thì chỉ thấy bạt ngàn rừng tre, không thấy cả chánh điện lẫn khu nhà ăn đâu cả. Ở ngôi chùa ấy cứ bốn giờ sáng thì có ai đó gióng chuông.”
“Nếu có ai đó gióng chuông thì chắc phải là sư trụ trì ở đó chứ.”
“Sư trụ trì hay ai khác thì không biết được. Chỉ biết là có tiếng chuông ngân âm âm trong rừng trúc mà thôi. Vào buổi sáng mùa đông sương mù dày đặc, nằm tránh rét trong tấmfuton 1 rất dày, tớ vẫn nghe tiếng chuông âm âm từ rừng trúc vọng sang. Chẳng biết là ai đã gióng chuông. Mỗi lần đi ngang trước cổng chùa, tớ đều nhìn thấy con đường lát đá trải dài, cổng chùa xiêu vẹo và rừng trúc bạt ngàn chừng như phủ lấp cả cánh cổng, nhưng tớ chưa bao giờ nhìn vào bên trong cổng chùa. Chỉ nghe tiếng chuông ngân lên trong rừng trúc lúc nằm trong chăn, giống như một con tôm vậy.”
“Như một con tôm á?”
“Ừ. Giống như một con tôm. Rồi tớ còn kêu âm âm trong miệng nữa.”
“Lạ thật!”
“Lúc đó thì chắc chắn là nhà bán đậu phụ ở phía trước ngôi chùa đã thức dậy và mở cánh cửa liếp bên ngoài. Có tiếng xay đậu kin kít. Lại có tiếng nước rửa đậu phụ chảy rào rào.”
“Mà tóm lại là nhà cậu ở chỗ nào kia chứ?”
“Thì ở chỗ mà tớ có thể nghe được những âm thanh ấy.”
“Tức là ở đâu?”
“Ở ngay cạnh đấy thôi.”
“Ở đối diện hay là bên cạnh cửa hàng đậu phụ?”
“Ở trên tầng hai ấy.”
“Tầng hai của chỗ nào?”
“Tầng hai của ngôi nhà có cửa hàng đậu phụ.”
“Cái gì? Cậu nói là…”, Roku rất đỗi ngạc nhiên.
“Tớ là con của ông chủ cửa hàng đậu phụ ấy mà.”
“Cái gì? Con của ông chủ cửa hàng đậu phụ?” Roku lại ngạc nhiên.
“Rồi khi hoa bìm bìm trên bờ giậu tàn héo, chuyển thành màu nâu và kêu lên lạo xạo khi bị bứt đi, khi sương xuống thành một lớp dày và ánh sáng của những ngọn đèn đường lấp lánh khắp nơi thì tiếng chuông lại ngân lên lần nữa. Tiếng chuông âm âm ngân lên thánh thót trong rừng trúc. Rồi cửa hàng đậu phụ ở trước cổng chùa, xem tiếng chuông ngân như là một thứ tín hiệu, lại sập cửa liếp xuống.”
“Cái cửa hàng đậu phụ trước cổng chùa mà cậu nói ấy chẳng phải là nhà của cậu sao?”
“Thì nhà tớ đấy. Nghĩa là cái cửa hàng đậu phụ trước cổng chùa ấy sập cửa liếp xuống. Tớ vừa nghe tiếng chuông ngân âm âm vừa lên gác nằm trùm chăn… Mónyoshiharaage 2 của nhà tớ rất ngon. Xóm giềng thường khen thế.”
Câu chuyện của hai người hàng xóm về “cánh tay” và “thanh kiếm” đã trở nên lắng dịu. Trên ban công của ngôi nhà đối diện, một ông cụ phốp pháp chừng hơn sáu mươi tuổi ngồi xếp bằng tựa tấm lưng tròn vào cây cột, dùng một cây nhíp nhổ từng sợi râu dưới cằm. Ông kẹp chặt vào gốc sợi râu rồi nhổ bật lên. Hai đầu kẹp của cây nhíp bật ra trở lại, quay xuống phía dưới và cằm ông cụ thì bật nảy về phía trên. Giống như là một cái máy vậy.
“Không biết mất mấy ngày thì mới nhổ xong nhỉ?”, Roku hỏi Kei.
“Nếu mà làm hết sức thì chắc sẽ mất nửa ngày.”
“Không thể được đâu”, Roku phản đối.
“Thế à? Vậy thì chắc phải mất một ngày chăng?”
“Không thể nào nhổ sạch chỉ trong vòng một hay hai ngày.”
“Có lẽ thế. Có khi phải mất đến một tuần ấy nhỉ? Cứ xem cái cách ông cụ tỉ mẩn xoa cằm khi nhổ râu thì biết.”
“Cứ thế thì có khi chưa nhổ xong lớp cũ, lớp mới đã lại mọc lên rồi cũng nên!”
“Chắc là cũng phải đau lắm nhỉ?”, Kei đổi đề tài.
“Chắc chắn là đau chứ. Có nên khuyên ông cụ không nhỉ?”
“Khuyên thế nào?”
“Thì khuyên ông cụ nên thôi đi.”
“Rõ vớ vẩn! Ta nên hỏi xem ông cụ mất mấy ngày để nhổ hết chỗ râu ấy thì hơn.”
“Ừ, thế nhé. Cậu hỏi đi!”
“Tớ không hỏi được đâu. Cậu hỏi đi chứ!”
“Tớ hỏi cũng được thôi, nhưng mà chả có gì thú vị, đúng không nào?”
“Ừ, thì thôi vậy.”
Kei rút lại lời đề nghị một cách dễ dàng.
Âm thanh từ chỗ lò rèn, sau một lúc ngắt quãng, lại ngân vang “choang choang” dưới bầu trời mùa thu trong vắt, như muốn vỡ ra tan vào muôn vàn tiếng sấm trong sơn thôn vào buổi chớm thu này.
“Hễ nghe thứ âm thanh đó là thế nào tớ cũng nhớ lại những âm thanh của cửa hàng đậu phụ”, Kei khoanh tay nói.
“Vì sao con của những người làm đậu phụ mà lại như vậy nhỉ?”
“Cậu nói con của những người làm đậu phụ như thế nào?”
“Ý tớ là chẳng có vẻ gì cho thấy cậu liên quan đến việc làm đậu phụ, đúng không?”
“Cho dù là con nhà làm đậu phụ hay con nhà bán cái gì đi nữa, hễ người ta muốn trở thành như thế nào thì sẽ trở thành như thế.”
“Ừ nhỉ. Vấn đề là ở cách suy nghĩ mà thôi.”
“Không phải chỉ là vấn đề suy nghĩ. Không biết trên đời này có bao nhiêu người làm đậu phụ mà đầu óc thông minh. Nhưng rồi họ vẫn suốt đời làm nghề đậu phụ. Đúng là khổ sở!”
“Vậy thì cái gì mới là quan trọng?” Roku hỏi với vẻ ngây thơ.
“Điều quan trọng là người mong muốn trở thành cái gì ấy chứ!”
“Nếu nói chuyện mong muốn, thì có nhiều thứ trên đời không được như mong muốn kia mà!”
“Vậy nên mới nói là khổ sở! Chúng ta đã trót sinh ra trong một thế giới không công bằng thì biết làm sao được! Dù cuộc đời không mang lại cho ta thì ta cũng phải tự tìm kiếm lấy mọi thứ bằng ý chí của chính mình.”
“Nếu mà ta mong muốn nhưng không đạt được thì sao?”
“Dù không đạt được thì ta cũng không từ bỏ mong muốn về bất cứ cái gì! Khi ta còn giữ được khát vọng thì sẽ có lúc cuộc đời mang lại cho ta điều đó.” Kei nói dứt khoát.
“Thế à? Nếu mọi thứ cứ như là mình gọi món ăn thì tuyệt quá. Ha ha ha!”
“Nhưng đó là cách mà tớ đã sống cho đến hôm nay đấy.”
“Vì thế mà tớ mới nói rằng cậu chẳng có vẻ gì là con nhà làm đậu phụ.”
“Có thể từ bây giờ tớ lại tỏ ra là con nhà làm đậu phụ ấy chứ. Mệt nhỉ! Ha ha ha ha!”
“Nếu điều đó xảy ra thì cậu định thế nào?”
“Nếu xảy ra điều đó là do cuộc đời này quá tệ. Tớ đã bày tỏ là muốn cải tạo cõi đời bất công thành một thế giới công bằng, nhưng cuộc đời không chịu nghe thì lỗi tại cuộc đời thôi chứ!”
“Nhưng mà cuộc đời là cái gì ấy nhỉ? Này cậu, nếu mà một người làm đậu phụ có thể thành đạt, thì cũng có nghĩa là có những người xuất thân cao quý trở thành người làm đậu phụ chứ?”
“Cậu nói người ‘cao quý’ là loại người nào?”
“Loại người mà tớ gọi là ‘cao quý’ ấy à? Chẳng hạn như quý tộc hay là người giàu có ấy.” Roku lập tức đưa ra lời giải thích về người cao quý.
“Ừ. Là quý tộc hay người giàu có chứ gì? Chẳng phải bây giờ họ vẫn đang là những người làm đậu phụ đấy sao?”
“Nhưng những người làm đậu phụ như thế cứ ngồi trên xe ngựa, xây những ngôi nhà lộng lẫy, ra vẻ như thế giới này chỉ dành cho riêng họ thì thật là khủng khiếp!”
“Chính vì điều đó mà họ mới thật sự là những người làm đậu phụ đấy chứ!”
“Đó là cảm nhận của mình thôi, chứ bọn họ thì đâu nghĩ thế.”
“Họ buộc phải thế dù không muốn! Có vậy thì cuộc đời mới công bằng.”
“Nếu mà công bằng được thì tốt quá! Chẳng có gì đáng phải to chuyện.”
“Không thể nói là không có gì to chuyện. Cậu cũng phải tham gia vào ấy chứ… Nếu mà họ chỉ cưỡi ngựa hay là xây những tòa biệt thự thôi thì chẳng sao. Nhưng mà họ còn áp bức người khác quá đáng nữa, cái bọn người làm đậu phụ vớ vẩn ấy. Tuy rằng họ chỉ là những kẻ làm đậu phụ!”, Kei bắt đầu tỏ ra giận dữ.
“Thế cậu có tận mắt chứng kiến chuyện đó bao giờ chưa?”
Kei, với hai tay vẫn khoanh trước ngực, trả lời là có. Âm thanh từ chỗ lò rèn vẫn vang lên “choang choang!”
“Họ vẫn cứ đập ‘choang choang’ nhỉ… Này, cậu nhìn tay tớ to ghê không?” Kei đột nhiên xắn tay áo, chìa cánh tay đen sạm ra ngay trước mặt Roku.
“Tay cậu thì từ xưa đã to rồi! Mà lại đen sạm nữa. Cậu đã bao giờ phải xay đậu nành chưa?”
“Cả xay đậu, cả bơm nước tớ đều đã làm… Cậu này, nếu mà người ta vô ý giẫm phải chân người khác thì ai là người phải xin lỗi nhỉ?”
“Thường thì người giẫm lên chân người khác phải xin lỗi chứ?”
“Còn bỗng dưng đập người khác thì sao?”
“Thế thì chắc là người đó bị thần kinh rồi!”
“Nếu mà bị thần kinh thì không cần xin lỗi, phải không?”
“Hừm, nếu có thể xin lỗi thì cũng nên xin lỗi chứ.”
“Cậu có thấy ngạc nhiên nếu một người bị thần kinh đòi cậu phải xin lỗi?”
“Có người bị thần kinh nào như thế không?”
“Bọn người làm đậu phụ bây giờ đều thuộc loại thần kinh như thế cả! Họ cứ áp bức người khác rồi lại bắt người ta phải cúi đầu. Chẳng phải là theo lẽ tự nhiên từ trước đến nay thì họ phải là người hối lỗi mới đúng sao?”
“Đúng là theo lẽ tự nhiên thì phải thế. Nhưng nếu bọn làm đậu phụ điên rồ thì chẳng có cách nào khác là làm ngơ, để mặc họ thôi.”
Kei lại bảo “ừ”. Rồi một lúc sau lại nói như đang độc thoại:
“Nếu mà để cho bọn điên rồ ấy phát triển sinh sôi thì tốt nhất là ta đừng sinh ra trong cõi đời này!”
Mỗi khi cuộc chuyện trò ngừng lại thì âm thanh “choang choang” của lò rèn lại vọng từ đầu bên kia ngôi làng vắng vẻ sang phía bên này.
“Cứ ‘choang choang’ không dứt nhỉ! Giống hệt như tiếng chuông chùa Kankeiji.”
“Cậu có những ám ảnh kỳ lạ nhỉ! Tiếng chuông chùa Kankeiji ấy và bọn người làm đậu phụ điên rồ kia có liên quan gì với nhau không?... Sự thay đổi của cậu từ khi là một chú nhóc ở cửa hàng đậu phụ cho đến ngày hôm nay là một con đường ra sao và do nhân duyên nào đưa đẩy? Cậu kể cho tớ nghe một chút được không?”
“Kể cậu nghe cũng được thôi. Nhưng bây giờ hơi lạnh nhỉ. Ta đi tắm một chút trước khi ăn tối nào! Cậu đồng ý không?”
“Ừ, đi nào!”
Kei và Roku cầm khăn tắm, vung vẩy đi ra vườn. Đôi guốc họ mang được làm bằng loại gỗ gai dầu, có in cả tên của quán trọ, giống như những đồ dùng theo phong cách kinh đô.
--------------------------------
1 Futonlà loại đệm Nhật Bản, thường dùng để trải dưới sàn gỗ trong kiểu nhà truyền thống.
2 Món đậu phụ rán theo kiểu Nhật Bản.


Comment