Chinh Phụ Ngâm
Gần đây trên mạng xuất hiện hình ảnh những người lính trẻ tử trận và những đứa con thơ khóc lóc.
Người lính trong quan tài mắt nhắm nghiền, bất động, từ ngực trở xuống được lá quốc kỳ phủ lên. Cách đấy không xa là một hàng binh sĩ ôm súng đứng nghiêm.
Một chú bé trai nhỏ xíu, chừng 4 tuổi, mặc com-lê, mang cà vạt, từ xa chạy nhanh đến linh cữu. Chú bé khóc òa, nước mắt nước mũi đổ ra đầy cả khuôn mặt thơ dại, miệng há to gào thét: “Ba! Ba! Ba mở mắt ra đi, về nhà với con nghe ba!” Thế sao? Nó mới ba, bốn tuổi mà đã linh cảm người chết sẽ không bao giờ trở lại! Người lính đứng cạnh quan tài vội bế bé nhấc bổng lên cao khỏi đầu người. Bé nhỏ và nhẹ quá mà.
Một em bé gái chừng 6 tuổi, xinh xắn như con búp bê, đầu bù tóc rối, mang một cái mền len đến một quan tài khác, vừa khóc nức nở rung chuyển cả người vừa nói trong nghẹn ngào: “Ba ơi! Chắc ba sẽ lạnh lắm. Con đem thêm cái mền cho ba đây.”
Lại một bé trai cũng khoảng 6, 7 tuổi, mặt mày méo xẹo vì cố nén tiếng khóc xuống, hai tay đưa cuốn sách lên gần khuôn mặt lạnh cứng trong quan tài, nói từng tiếng lạc giọng: “Ba nè, ba nè, ba ngồi dậy đi ba. Ba chỉ con đọc lại mấy cái đoạn ngắn này, này, này!”
Trên đây là “con khóc cha”. Ta không khỏi nghĩ đến cảnh tượng “vợ khóc chồng”, những tiếng khóc cô đơn, thầm lặng, và đau đớn hơn nhiều.
Tại sao nước mắt cứ tuôn chảy ra như không bao giờ thôi? Tại vì chiến tranh, chết chóc. Tại vì bản chất của các loài động vật, trong đó có loài người, là giết nhau. Từ quá khứ xa xôi thời ăn lông ở lỗ cho đến nay, và sẽ kéo dài mãi vào tương lai mù mịt, con người có lẽ sẽ không bao giờ thay đổi được bản năng tàn sát lẫn nhau.
Đấy là “tử biệt”.
Thế còn “sinh ly”– Yêu thương nhau, cần thiết nhau, nhưng bắt buộc phải xa nhau, điều mà nhiều tác phẩm văn chương đã đề cập đến, trong đó có Chinh Phụ Ngâm?
Chinh Phụ Ngâm là một áng thơ dài diễn tả nỗi lòng người chinh phụ sống tại quê nhà trong khi người chồng đang chiến đấu trên chiến trường xa xôi. Đây là một tác phẩm cổ điển nổi tiếng. Ngoài giá trị lớn lao về mặt văn chương, nghệ thuật, có vài ba điều liên quan đến tác phẩm này đáng được nêu lên.
Điều đáng nói trước tiên là, trong văn học Việt Nam, và có lẽ cả văn học thế giới, dường như không có tác phẩm thơ nào dài bằng Chinh Phụ Ngâm, với 408 câu thơ, chỉ để diễn tả nỗi lòng người vợ mong chồng.
Có thể người ta nghĩ ngay đến Odyssey có đến 12,110 câu thơ của Homer, dài gấp gần 30 lần so với Chinh Phụ Ngâm, trong đó chinh phu là Odysseus và chinh phụ là Penelope. Homer kể chuyện Odysseus, vua xứ Ithaca, dẫn quân đi chinh phạt tại một nơi rất xa quê nhà là thành Troy. Thắng trận, trên đường về, nhà vua đã trải qua nhiều gian nan, mãi 20 năm sau mới tới được quê hương, và gặp lại người vợ yêu quý là Penelope. Penelope nổi tiếng xinh đẹp, đức hạnh, trí tuệ, và một lòng thủy chung chờ chồng. Được nhiều người đeo đuổi mong cưới làm vợ, nhưng nàng rất khéo léo tìm đủ mọi cách từ chối.
Thiên anh hùng ca đó chủ yếu kể lại những trận đánh oanh liệt và những tháng năm gian khổ của Odysseus. Người chinh phụ Penelope chỉ đóng vai rất phụ và chỉ được nhắc đến với khoảng dưới 60 câu thơ mà thôi.
Trái lại, chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm là vai chính. Hơn nữa, toàn thể bài thơ trường thiên đó đều dành riêng cho nàng.
Thứ đến, nhiều ý kiến cho rằng thơ không thể dịch từ một ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác. Một câu nói nổi tiếng của thi hào Mỹ Robert Frost: “Poetry is what is lost in translation” (Thơ bị đánh mất khi dịch). Quả thế thơ có những đặc tính riêng biệt trong đó âm thanh, nhạc điệu, hình ảnh, vần, vân vân, của một ngôn ngữ không thể diễn tả một cách đầy đủ và rung cảm bằng một ngôn ngữ khác. Bản dịch sẽ mất tất cả thi vị.
Nhà thơ Bùi Giáng cũng có lần nói: “Thơ không dịch được. Muốn dịch thơ, chỉ có cách là làm một bài thơ khác.” Bùi Giáng không nói hết ý, nhưng ta cũng hiểu rằng bài thơ khác đó phải có quan hệ hết sức chặt chẽ với bài thơ nguyên tác; phải có nhiều điểm tương đồng về lời, về ý; và cuối cùng, phần sáng tạo đóng vai trò rất quan trọng.
Trong chiều hướng đó, nhưng cách đây gần 300 năm, Chinh Phụ Ngâm nguyên tác với 483 câu thơ chữ Hán của Đặng Trần Côn làm theo thể Cổ nhạc phủ (những câu dài ngắn chen lẫn nhau), đã được Đoàn Thị Điểm dịch ra tiếng Việt bằng 408 câu thơ theo thể song thất lục bát trong đó phần sáng tạo, chứ không phải chỉ dựa vào kỹ thuật mà thôi, đã khiến bản dịch mang một phong cách mới đầy nữ tính, đầy rung cảm, đầy thi vị, và vô cùng thanh tao, trang nhã.
Như vậy thơ trong bản dịch Chinh Phụ Ngâm không bị đánh mất như Robert Frost đã nói, trái lại còn có phần hay hơn nguyên tác. Mấy câu trích dẫn và so sánh bản dịch và nguyên văn ở phần dưới của bài viết ngắn này có đề cập lướt qua về vấn đề đó.
Điều đáng nói thứ ba là, thông thường, một bài thơ dài khoảng vài ba mươi câu là đủ để nói lên một vài cảm nghĩ nào đó – vui, buồn, mừng, giận, yêu đương, nhớ nhung, hờn dỗi, v. v… Chẳng hạn:
Thề non nước – Tản Đà, 22 câu.
Tình quê – Hàn Mạc Tử, 22 câu.
Tương tư chiều – Xuân Diệu, 23 câu.
Chào lục tỉnh – Bùi Giáng, 24 câu.
Con mèo đen – Khế Iêm, 20 câu.
Huế oán – Tô Thùy Yên, 26 câu.
Hay khá dài như :
Giây phút chạnh lòng – Thế Lữ, 56 câu.
Vậy người chinh phụ đã nói những gì cho hết 408 câu. Đấy là điều khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên. Nàng nói nhiều lắm. Trong cô đơn. Trong độc thoại. Một mình mình nói, một mình mình nghe. Cảm xúc tuôn trào như suối nguồn không bao giờ cạn.
*
Chinh Phụ Ngâm không có “Tử Biệt” nhưng có “Sinh Ly”. Người chồng là chinh phu xông pha “ngoài chân mây”, người vợ là chinh phụ âm thầm “trong cánh cửa”.
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây
Bản dịch thơ được xem như hay hơn nguyên tác như đã nói. Tuy nhiên, một cách tương đối, cũng có câu, có đoạn, nguyên tác hay hơn.
Ngay hai câu đầu tiên trong bản dịch:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
nghe thật du dương, uyển chuyển. Nhưng hai câu trong trong nguyên tác ngắn gọn, mạnh mẽ, sắc cạnh hơn. Khốc liệt hơn. Nó nêu lên hai thực thể riêng biệt nhưng gắn bó nhau, kế tiếp nhau, cái này tạo dựng nên cái kia một cách dứt khoát, không thể nào cưỡng lại được. Chỉ có 8 chữ chia đều ra làm 2 vế, mỗi vế 4 chữ. Vế trên là nhân, vế dưới là quả:
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Từ đấy về sau là những dòng cảm xúc nối tiếp nhau, quấn quýt nhau, lẫn lộn nhau, có khi lặp đi lặp lại rối rắm như tơ vò – rất phù hợp với tâm trạng của người chinh phụ phương Đông thời cổ.
Giữa lúc đoàn quân trẩy, rộn ràng trong tiếng trống trận, tiếng nhạc ngựa, tiếng địch thổi; rền vang như tiếng sấm động ở chân trời của chiến xa, của kỵ mã; và trùng trùng điệp điệp cờ xí tung bay trong gió — giữa cảnh tượng hào hùng, náo động, và rầm rộ đó, màu chiến y chàng khoác lên người, để phân biệt với màu áo của binh sĩ dưới trướng, và màu con chiến mã chàng cưỡi trên lưng, đã nổi bật lên trên tất cả, oai phong, lẫm liệt. Hình ảnh ấy chói lòa trong tâm hồn nàng trong buổi tiễn đưa:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
Đấy cũng là hình ảnh cuối cùng của chàng mà nàng được nhìn thấy. Rồi tất cả đều chìm xuống trong im lặng khủng khiếp. Tất cả đều lẫn khuất sau ngàn dâu, sau màu xanh của cây lá, của trời, của biển. Của hư vô. Chàng đã đi rồi, không để lại dấu vết gì:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
Những chữ ngàn dâu xanh được lặp lại hai lần. Đó không phải là ngẫu nhiên. Trong nguyên tác, nó còn được lặp lại đến ba lần. Đấy là tiếng gào thét âm thầm, vô vọng, là tiếng réo gọi lặng lẽ của người đàn bà, réo gọi những hàng dâu xanh ngắt đứng im lìm ở hai bên đường, khác nào ngàn lau không tiếng nói, (Hàn Mạc Tử – Tình quê), đang chứng giám cảnh biệt ly đau đớn. 4 câu thơ trên được dịch từ 4 câu nguyên tác dưới đây:
Tương cố bất tương kiến
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch thượng tang, mạch thượng tang
Thiếp ý quân tâm thùy đoản tràng
(Cùng đoái trông mà cùng không thấy
Xanh xanh dâu bên đường
Dâu bên đường, dâu bên đường
Ý thiếp lòng chàng ai dài ai ngắn)
Ngay cả tin tức của nhau cũng vắng dần rồi mất hẳn:
Trải mấy xuân tin đi tin lại
Đến xuân này tin hãy vắng không
Thế mà nàng vẫn cứ đi tìm:
Tìm chàng thuở Dương đài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương phố bến xưa
Vậy là nàng đã tìm thấy chàng? Nhưng không phải thế đâu. Đấy chỉ là chuyện xẩy ra trong giấc mộng:
Sum vầy mấy lúc tình cờ
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân
Không như Penelope của Homer sống trong nhung lụa, kẻ hầu người hạ, lại có nhiều quan hệ với đình thần, được nhiều người quyền quý cầu hôn, nàng chinh phụ của Á đông ngày xưa sống trong cô đơn, cô đơn tuyệt đối. Chàng “ruổi ngựa dặm trường”, thì nàng cũng “dạo hài lối cũ” – lâu lắm không hề bước ra khỏi cửa cho nên lối cũ rêu đã mọc đầy:
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ
Thiếp dạo hài lối cũ rêu in
Ngày tựa bóng mình, đêm ôm gối chiếc:
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai
Những hình ảnh của lứa đôi càng khiến nàng tủi thân nhìn lại cảnh ngộ của mình:
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa
Ngay cả việc phấn son trang điểm là đặc tính của phụ nữ — có người còn nói phụ nữ ra khỏi nhà mà không chịu tô chút phấn, điểm chút son, là khiếm nhã — nàng cũng không màng tới. Chỉ có chàng mới khiến nàng để tâm đến nhan sắc:
Nương song luống ngẩn ngơ lòng
Vắng chàng điểm phấn tô hồng với ai
Trong cô đơn cùng cực, lòng nàng rối như tơ vò. Buồn bã, thương nhớ, hy vọng, tuyệt vọng, tủi thân, than thở … lặp đi lặp lại dưới nhiều dạng khác nhau. Chẳng hạn trong câu 33 nàng muốn làm bóng trăng: “Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi”; thì với câu 365, nàng cũng xin làm bóng: “Xin làm bóng theo cùng chàng vậy.”
Có khi hờn dỗi hay quẫn trí nàng đổ lỗi cho chàng:
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề
mà quên rằng chàng vốn dòng hào kiệt. Khi tổ quốc cần đến, chàng phải tuân theo phép nước “xếp bút nghiêng theo việc đao cung” , và xem nhẹ tình nhà, “Phép công là trọng niềm tây sá nào” .
Có khi lòng bỗng dưng đầy nghi, đàn bà vốn đa nghi, nàng lẩn thẩn tự hỏi phải chăng chàng đã phụ bạc. Nàng có khác gì hoa hướng dương, hoa quỳ, luôn luôn hướng đến mặt trời là chàng. Thế nhưng chàng mải đi chinh chiến. Vậy có thể chàng đã quên mình chăng, hay chí ít hững hờ, lơ đãng. Nếu thế nàng sẽ như hoa quỳ thiếu bóng dương, rồi tàn, rồi rụng. Nhiều đêm thức trắng, nàng thầm đếm hoa rụng trong đêm sương mấy lần.
Trong đoạn này những chữ hoa vàng, bóng dương được lặp đi lặp lại nghe như những tiếng nức nở, tiếng thổn thức, đứt đoạn:
Hướng dương lòng thiếp như hoa
Lòng chàng lẩn thẩn[1] e tà bóng dương
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái
Hoa để vàng chỉ tại bóng dương
Hoa vàng hoa rụng quanh tường
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần
6 câu thơ ảo não trên dịch từ 9 câu thơ nguyên tác:
Thiếp tâm như hoa thường hướng dương
Chỉ phạ quân tâm như lưu quang
Lưu quang nhất khứ bất phục chiếu
Hoa vị lưu quang hoàng hựu hoàng
Hoa hoàng cánh hướng thùy biên tiếu
Lưu quang bất khẳng nhất hồi chiếu
Hoàng hoa khước vị lưu quang lão
Hoàng hoa lão hề lạc mãn tường
Hoa lạc như kim kinh kỷ sương
(Lòng thiếp như hoa quì luôn hướng về mặt trời
Chỉ sợ lòng chàng như bóng dương thoảng qua
Bóng dương một qua không trở lại
Hoa vì bóng dương vàng lại vàng
Hoa vàng còn biết mỉm nụ cười vào đâu
Vì bóng dương đã chiếu qua không quay lui
Thì hoa se vàng đi vì bóng dương chỉ thoáng qua thôi
Hoa vàng rồi rụng đầy tường
Hoa rụng đến nay trải mấy năm).
Đoạn thơ trên rất đặc biệt. So sánh với nguyên tác chữ Hán mới thấy tài nghệ của dịch giả. Tuy nhiên câu cuối cùng trong bản dịch không sát nghĩa với nguyên tác, nhưng lại hay hơn.
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần
so sánh với:
Hoa rụng đến nay trải mấy năm.
Trong khi dịch ra thành thơ, dịch giả đã thêm bớt, và sáng tạo nhiều.
Tính cách đó càng rõ nét hơn trong đoạn thơ dưới đây với 4 câu dịch từ 6 câu nguyên văn:
Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung
Bốn câu thơ thật đẹp, ngôn từ lẫn ý nghĩa. Đẹp và buồn đến não lòng. Tội nghiệp cho nàng chinh phụ! Trong tuyệt vọng, nàng tự đánh lừa, làm như thể con người định đoạt được số phận của mình, và thách thức “con quỷ thời gian”.
Dưới đây, nguyên văn chữ Hán:
Ninh cam tử tương biệt
Hà nhẫn sinh tương ly
Tuy nhiên tử tương kiến
Hạt nhược sinh tương tùy
An đắc quân vô đáo lão nhật
Thiếp thường thiếu niên thì
(Thà chết mà cách biệt
Không thà sống mà chia ly
Nếu chết mà được thấy nhau đi nữa
Sao bằng sống bên nhau
Ước sao chàng trẻ mãi không già
Thiếp thì vẫn giữ được tuổi hoa niên)
Ta thấy ngay những câu dịch hơi xa ý nghĩa của nguyên tác, nhưng hàm súc hơn, tha thiết hơn, gây xúc động mạnh hơn.
Viết đến đây tôi không khỏi cảm thấy lòng nặng trĩu. Và liên tưởng ngay đến hoàn cảnh của người đàn bà Việt Nam trong chiến tranh vừa qua. Những người chinh phụ Miền Nam, cách đây không lâu, khi cuộc chiến tranh tàn khốc hơn 20 năm chấm dứt, nghĩ rằng dù sao đi nữa cũng sẽ được cùng chồng sum họp, họ lại phải tiếp tục cuộc “sinh ly” kéo dài không biết đến bao giờ.
Những chinh phu, chồng của họ, con số lên tới hàng mấy trăm nghìn người, lại bị tiếp tục nhốt trong rừng xanh núi thẳm. Có người không bao giờ trở về. Có người bị giam thêm 10 năm, 15 năm, trở về chấn thương, tàn tạ. Có người vừa ra khỏi nhà tù, đã bất chấp mọi hiểm nghèo, vượt biên, vượt biển một mình. Bởi vì phải liều mình đi trước dò đường, có chết cũng đành chịu, vợ con tính sau. Chia nhau mà đào thoát. Câu nói nghịch lý hồi đó thường được nhắc đến: Đoàn kết, chết hết. Chia rẻ, sống lẻ tẻ.
Những chinh phụ xưa cũng như nay, những người vợ chờ, ngoài những mất mát không có gì bù đắp nổi, đã mất hết cả tuổi thanh xuân.
*
Nhiều nhà phê bình, biên khảo đã viết những tác phẩm công phu và giá trị về kiệt tác Chinh Phụ Ngâm. Bài viết ngắn này chỉ mong soi chiếu thêm chút tia sáng nhỏ vào cõi lòng đa sầu đa cảm của người chinh phụ phương Đông của nhiều thế kỷ trước, khi chế độ “trọng nam khinh nữ” được thịnh hành, khi số phận của người đàn bà bị buộc chặt vào cuộc đời của người chồng, khi thiếu vắng người chồng, người vợ sống trong tuyệt vọng.
Trong một số trường hợp, để tiện so sánh, bài viết này thỉnh thoảng có trích dẫn những câu nguyên tác kèm với phần dịch sát nghĩa và phần dịch thành thơ của Đoàn Thị Điểm, nhằm mục đích làm sáng tỏ tài nghệ lỗi lạc của dịch giả. Tuy nhiên phần trích dẫn đó rất ít, chưa đến 40 câu trong tổng số 408 câu của bản dịch, và phần nhận định cũng rất thiếu sót và quá sơ lược. Nói cách khác, bản dịch Chinh Phụ Ngâm bất hủ này vẫn còn chứa đựng rất nhiều ẩn số, xứng đáng được sự quan tâm và tìm hiểu, chu đáo và đầy đủ hơn, từ người viết lẫn người đọc.
Ngự Thuyết
2026


